Truy cập nội dung luôn

Sở công thương Bình dương

Binh duong department of Industry and trade

FDI “nâng bước” các nền kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu

06-06-2022

FDI đóng vai trò quan trọng trong các nền kinh tế vì mở rộng cho các nền kinh tế về vốn, kỹ năng, và sự đổi mới cần thiết để duy trì khả năng cạnh tranh.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng một vai trò quan trọng trong các nền kinh tế vì mở rộng cho các nền kinh tế về vốn, kỹ năng, bí quyết và sự đổi mới cần thiết để duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Nguồn vốn FDI được chuyển qua các chuỗi giá trị toàn cầu thậm chí còn mang lại nhiều tiềm năng hơn nữa trong việc chuyển đổi các nền kinh tế đang phát triển thành các trung tâm định hướng sản xuất. Dựa trên báo cáo chính sách về FDI và chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) do Hinrich Foundation thực hiện, tập trung vào ba nền kinh tế - Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam - minh chứng cho mối liên hệ giữa dòng vốn FDI, sự tham gia của các nền kinh tế đang phát triển trong các GVC và nâng cấp kinh tế do đó thúc đẩy sự tham gia vào các GVC đó.

FDI “nâng bước” các nền kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu

FDI vào châu Á - Thái Bình Dương

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương từ lâu đã trở thành điểm đến hàng đầu của thế giới đối với nguồn vốn FDI liên quan đến lĩnh vực sản xuất. Từ năm 1990 - 2020, nguồn vốn FDI tích lũy trong khu vực APEC tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm là 10,4%. Tính đến năm 2020, các nền kinh tế APEC chiếm gần 52% tổng nguồn vốn FDI hướng vào toàn cầu. Sản xuất có xu hướng thu hút phần lớn vốn FDI.

Tính đến năm 2019, lĩnh vực sản xuất đã nhận được khoảng một nửa tổng số dự án FDI vào lĩnh vực xanh trên toàn cầu - khoảng 400 tỷ đôla Mỹ. Ngoài lĩnh vực dầu khí, ô tô và điện tử chiếm tỷ trọng lớn nhất - 15% các dự án FDI sản xuất lĩnh vực xanh chảy vào lĩnh vực ô tô và 13% được đầu tư vào điện tử. Trong khi đó, lĩnh vực dệt may chiếm khoảng 6% tổng số dự án FDI về lĩnh vực xanh và là nguồn việc làm chính của các nền kinh tế trong nước. Ở Việt Nam, ngành dệt, da và may mặc đóng góp gần 50% tổng số việc làm trong lĩnh vực sản xuất.

Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam đều có cơ cấu kinh tế theo định hướng sản xuất. Và sự phát triển dựa trên FDI của lĩnh vực sản xuất trong mỗi nền kinh tế đã dẫn đến mạng lưới sản xuất khu vực và hội nhập mạnh mẽ hơn vào GVC. Đặc biệt, dệt may, điện tử và ô tô đã quan sát thấy các mô hình tham gia GVC và nâng cấp kinh tế khác nhau. Thứ nhất, quy mô và năng lực trong nước của một nền kinh tế có thể ảnh hưởng đến mức độ tham gia của GVC. Thứ hai, vị trí của mỗi nền kinh tế trong số ba nền kinh tế trong GVC khác nhau ở các lĩnh vực khác nhau. Thứ ba, FDI trong lĩnh vực sản xuất đóng góp quan trọng vào sự tham gia của GVC và nâng cấp nền kinh tế. Do quy mô và khả năng tự cung tự cấp trong nhiều lĩnh vực sản xuất, tỷ lệ tham gia GVC của Trung Quốc thấp hơn so với hầu hết các nền kinh tế khác. Indonesia yêu cầu hội nhập nhiều hơn vào mạng lưới sản xuất toàn cầu để phát triển toàn diện lĩnh vực sản xuất và tăng cường hoạt động xuất khẩu của mình. Cuối cùng, Việt Nam có mức độ hội nhập cao nhất với mạng lưới sản xuất toàn cầu. Ở một mức độ lớn, tỷ lệ tham gia GVC cao phù hợp với sự phụ thuộc vào nhu cầu tìm nguồn cung ứng toàn cầu.

Các lĩnh vực quan trọng

Thứ hai, định vị của GVC khác nhau giữa các lĩnh vực khác nhau. Nói chung, các nền kinh tế nằm ở các vị trí thượng nguồn của GVCs hơn (được đo bằng khoảng cách đến nhu cầu cuối cùng) có xu hướng chiếm được nhiều phần giá trị gia tăng được tạo ra trong GVC hơn so với các nền kinh tế ở phía dưới. Giá trị lớn hơn của chỉ số vị trí GVC có nghĩa là khu vực kinh tế tương đối thượng lưu hơn. Ví dụ lĩnh vực dệt may, trong đó chỉ số vị trí GVC là thấp nhất đối với cả ba nền kinh tế. Điều này cho thấy rằng cả ba nền kinh tế hầu hết đều là trung tâm lắp ráp cuối cùng, liên quan đến các hoạt động cắt, chế tạo và trang trí. Trung Quốc và các nền kinh tế đang phát triển khác ở Đông Nam Á đã phát triển năng lực sản xuất cạnh tranh quốc tế bằng cách chuyên về công việc lắp ráp cuối cùng với chi phí thấp. Các công ty hàng đầu trong lĩnh vực này thường là chủ sở hữu thương hiệu hoặc nhà bán lẻ từ các nền kinh tế phát triển.

Trong lĩnh vực điện tử, động lực của việc định vị GVC rất khác nhau. Vị trí của Trung Quốc quan sát thấy sự gia tăng nhẹ theo thời gian, của Indonesia hầu như không thay đổi và Việt Nam đã giảm mạnh. Các xu hướng trái ngược như vậy ngụ ý các quá trình nâng cấp GVC rất khác nhau trong mỗi nền kinh tế. Trong khi Trung Quốc đã tiến ngược dòng dọc theo chuỗi giá trị và các công ty Trung Quốc đã trở thành công ty dẫn đầu trong nhiều chuỗi giá trị hàng hóa điện tử trong nước và toàn cầu, thì Indonesia lại đạt được những bước tiến chậm hơn.

Trong khi đó, Việt Nam thời gian qua đã nổi lên như một nhà lắp ráp điện tử quan trọng. Cuối cùng, trong lĩnh vực ô tô, cả ba nền kinh tế đều chứng kiến ​​sự sụt giảm đáng kể trong các chỉ số định vị GVC của họ, cho thấy rằng cả ba nền kinh tế đã đi xuống phía dưới cùng với lĩnh vực GVC này.

Nhìn chung, các vị trí GVC đang phát triển chứng tỏ các con đường thay đổi của các nền kinh tế trong việc nâng cấp nền kinh tế. Ngành dệt may và điện tử có những thay đổi năng động hơn, trong khi ngành ô tô thâm dụng công nghệ và vốn nhiều hơn và do đó phụ thuộc nhiều hơn vào con đường. Quy mô đầu tư trung bình của ngành công nghiệp ô tô đạt 58 triệu USD, trong khi đối với ngành điện tử và dệt may, giá trị lần lượt là 45 triệu USD và 16 triệu USD.

Lộ trình nâng cấp

Kinh nghiệm của ngành dệt may cung cấp những hiểu biết quan trọng về FDI, sự tham gia của GVC và tiềm năng nâng cấp. Các quỹ đạo phát triển sớm hơn của hầu hết các nền kinh tế đang phát triển Đông Á cho thấy con đường đơn giản để công nghiệp hóa là thông qua sản xuất dệt may với các chính sách khuyến khích môi trường đầu tư thân thiện hơn để thu hút các công ty đa quốc gia. Chương trình Phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam giai đoạn 2016-2025 (Quyết định 68/2017) đã cố gắng giải quyết tình trạng thiếu các nhà cung cấp cạnh tranh trong nước bằng cách hỗ trợ và kết nối các doanh nghiệp trong nước với các công ty nước ngoài để thu hút thêm vốn FDI trong một số ngành, bao gồm cả ngành dệt may.

Nâng cấp kinh tế cũng có thể đạt được thông qua lĩnh vực điện tử, một ngành công nghiệp năng động trong đó các bộ phận và hàng hóa cuối cùng có thể giao dịch cao. Một số ít các nền kinh tế APEC đã tận dụng các cơ hội có được thông qua sự tham gia của GVC để nâng cao các quy trình và kinh nghiệm phát triển của họ. Ban đầu, các nền kinh tế đang phát triển cung cấp nhiều ưu đãi để thu hút các công ty đa quốc gia vào các hoạt động lắp ráp cuối cùng.

Trong những năm 1990, nguồn vốn FDI tăng mạnh của Trung Quốc vào lĩnh vực điện tử chủ yếu tập trung vào sản xuất lắp ráp theo hợp đồng và sản xuất thiết bị gốc (OEM). Khi nền kinh tế Trung Quốc phát triển theo chuỗi giá trị, các phân đoạn hạ nguồn của quá trình sản xuất chuyển sang các nền kinh tế lân cận có chi phí lao động thấp hơn, chẳng hạn như Việt Nam. Do đó, nâng cấp kinh tế đi đôi với sự phát triển của lĩnh vực điện tử như một động cơ công nghiệp hóa.

Gần đây, chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích các công ty CNTT-TT hàng đầu trong nước đầu tư ra nước ngoài, nhằm tiếp thu công nghệ mới và khám phá thị trường mới. Cho đến đầu những năm 2000, các thương hiệu Trung Quốc đặc biệt hiện nay thường bắt đầu với tư cách là nhà cung cấp hoặc đối tác liên doanh của các công ty từ Hồng Kông, Trung Quốc hoặc Đài Bắc Trung Hoa, cung cấp cho doanh nghiệp này vốn, công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường ở đại lục.

So với các ngành công nghiệp nhẹ hơn này, ngành ô tô khó phát triển hơn vì khả năng cạnh tranh quốc tế của nó phụ thuộc vào công nghệ và vốn. Thông thường, các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế và kỹ thuật của ngành diễn ra tại nơi đặt trụ sở chính của các công ty hàng đầu và các nhà máy lắp ráp cuối cùng nằm trong các thị trường nội địa lớn (ví dụ: Indonesia) hoặc trong phạm vi tiếp cận của các thị trường khu vực và toàn cầu (ví dụ: Thái Lan). Do đó, chuyên môn hóa trong các hoạt động gần giai đoạn cuối của quá trình sản xuất giúp các nền kinh tế đang phát triển thiết lập các liên kết chặt chẽ hơn với các GVC. Đối với khu vực ASEAN, Indonesia là một trong những trung tâm sản xuất GVC ô tô, trong khi Việt Nam chuyên về lắp ráp hoàn toàn (CKD) và sản xuất một số bộ phận và linh kiện.

Cuối cùng, phần lớn các nhà cung cấp ô tô ở Trung Quốc chủ yếu dựa vào thị trường nội địa và không có vị trí thống trị trong chuỗi cung ứng OEM toàn cầu. Các nhà sản xuất ô tô của Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào các nhà cung cấp đa quốc gia cho các bộ phận và linh kiện, do các nhà cung cấp địa phương thiếu các yêu cầu công nghệ để sản xuất các bộ phận và linh kiện này trong nước.

Lợi ích của việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thông qua FDI cũng được hỗ trợ bởi dữ liệu về việc làm, năng suất và doanh số bán hàng. Các công ty Indonesia có ít nhất 10% sở hữu nước ngoài hoạt động mạnh hơn đáng kể về doanh số hàng năm và tăng trưởng năng suất. Hơn nữa, so với các doanh nghiệp không xuất khẩu và doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp Indonesia định hướng xuất khẩu đã chứng kiến ​​mức tăng trưởng việc làm cao hơn đáng kể. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp tham gia nhiều hơn vào hoạt động xuất khẩu và có ít nhất 10% sở hữu nước ngoài cũng có hiệu quả kinh doanh và việc làm mạnh mẽ.

Phần lớn FDI ngày nay được thực hiện bởi các doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) dưới hình thức mua bán và sáp nhập (M & As) và đầu tư vào lĩnh vực xanh. Khi các doanh nghiệp địa phương đóng vai trò là nhà cung cấp và xây dựng các liên minh chiến lược với các MNE, thì việc tăng cường tương tác với các công ty khổng lồ toàn cầu có thể làm tăng khả năng các doanh nghiệp trong nước trở thành nhà xuất khẩu trực tiếp trong tương lai.


https://congthuong.vn

Lượt xem: 2760

Thống kê truy cập

Đang truy cập:879

Tổng truy cập: 8567351