logo

Giày dép đứng thứ 4 trong TOP 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực

Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan, trong tháng cuối năm 2017, xuất khẩu giày dép đạt mức tăng trưởng 7,3% so với tháng liền kề trước đó, thu về 1,47 tỷ USD; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2017 lên mức 14,65 tỷ USD, tăng 12,7% so với năm 2016. XK giày dép tiếp tục đứng thứ 4 trong TOP 10 mặt hàng XK chủ lực của Việt Nam.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong tháng cuối năm 2017, xuất khẩu giày dép đạt mức tăng trưởng 7,3% so với tháng liền kề trước đó, thu về 1,47 tỷ USD; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2017 lên mức 14,65 tỷ USD, tăng 12,7% so với năm 2016. Xuất khẩu giày dép tiếp tục đứng thứ 4 trong TOP 10 mặt hàng xuất khẩu  chủ lực của Việt Nam.

Mục tiêu đặt ra trong năm 2018 đạt từ 19,5 - 20 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2017; sản xuất công nghiệp da giày tăng 5%; tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm da giày đạt 55%.

Đáng chú ý là trong năm 2017, xuất khẩu giày dép sang tất cả các thị trường chủ đạo đều đạt mức tăng trưởng kim ngạch so với năm 2016. Cụ thể: xuất sang thị trường Mỹ tăng 14,1%, đạt 5,11 tỷ USD, chiếm 34,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của cả nước; xuất sang Trung Quốc tăng 26,1%, đạt 1,14 tỷ USD, chiếm 7,8%; sang Đức tăng 29,9%, đạt 992,6 triệu USD, chiếm 6,8%; Bỉ tăng 10%, đạt 907,5 triệu USD, chiếm 6,2%; Nhật tăng 11,3%, đạt 751,03 triệu USD, chiếm 5,1%.

Giày dép xuất khẩu sang các nước EU nói chung tăng trên 10%, đạt 4,61 tỷ USD, chiếm 31,5% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam.

Hiệp hội Da-Giày-Túi xách Việt Nam cho biết: Nhu cầu trên thị trường ngày càng tăng. Trên 70% sản lượng ngành công nghiệp thời trang được sản xuất ở các quốc gia khu vực châu Á như: Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia, Philippines, Bangladesh,… Trong đó, riêng Trung Quốc đã chiếm khoảng 50%. Mục tiêu đặt ra trong năm 2018 so với năm 2017 là xuất khẩu  đạt từ 19,5 - 20 tỷ USD, tăng 10%; sản xuất công nghiệp da giày tăng 5%; tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm da giày đạt 55%. Xuất khẩu giày dép tiếp tục đứng thứ 4 và túi cặp đứng thứ 10 trong TOP 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Về thách thức của ngành da giày, một trong những vấn đề nổi cộm là năng suất lao động. Hiện nay, năng suất lao động tổng hợp toàn ngành chia ra 3 cấp độ khác nhau. Trong đó, các doanh nghiệp lớn, năng suất đạt khoảng 25.000-27.000 USD/người/năm; các doanh nghiệp  trung bình khoảng 18.000 USD/người/năm và doanh nghiệp vừa và nhỏ khoảng 12.000 USD/người/năm.

Trong năm 2018 cũng như tương lai xa hơn, các doanh nghiệp trong ngành da giày, túi xách sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khá gay gắt của các doanh nghiệp cùng ngành trên thế giới. Hiện nay, thế giới đều tính năng suất lao động theo giờ. Theo cách tính này, năng suất của các doanh nghiệp Việt Nam khoảng 0,6-0,7 đôi/giờ, còn các doanh nghiệp áp dụng công nghệ, máy móc tiên tiến vào sản xuất đã đạt 1,2 đôi/giờ.

Nếu áp dụng những phương pháp quản lý cũng như ứng dụng công nghệ để giải quyết bài toán về năng suất lao động, dự báo tăng trưởng ngành da giày có thể sẽ tăng 1,5-2 lần so với hiện tại. Quá trình này sẽ giúp doanh nghiệp thay thế một phần lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như kiểm soát tốt độ đồng đều của sản phẩm. Mặc dù việc đầu tư sẽ khá tốn kém, song để đảm bảo phát triển dài hạn, bền vững, các doanh nghiệp cũng cần nghiêm túc nhìn nhận và đầu tư phù hợp.

Thị trường xuất khẩu giày dép năm 2017

ĐVT: USD

Thị trường XK

T12/2017

T12/2017 so với T11/2017 (%)

Năm 2017

(+/-%) Năm 2017 so với năm 2016

Tổng kim ngạch XK

1.468.234.664

7,31

14.651.848.923

12,72

Mỹ

516.137.793

20,02

5.113.113.407

14,07

Trung Quốc

101.923.399

-7,32

1.140.655.060

26,08

Đức

97.486.524

-5,03

992.599.683

29,86

Bỉ

90.494.407

-3,64

907.502.248

9,95

Nhật Bản

78.482.593

14,85

751.033.319

11,3

Anh

53.205.164

-17,94

688.813.800

11,41

Hà Lan

64.536.233

11,75

582.864.127

-2,04

Pháp

52.298.425

2,92

511.625.430

13,72

Hàn Quốc

47.123.088

24,14

402.717.156

16,75

Italia

35.829.112

16,41

306.916.894

-8,58

Canada

31.317.959

7,51

292.480.900

15,67

Mexico

26.486.107

20,19

288.570.412

12,35

Tây Ban Nha

28.425.907

13,03

258.184.053

-3,22

Australia

19.689.381

-7,51

225.352.002

7,76

Hồng Kông

16.683.079

-25,52

176.399.003

5,73

Brazil

17.534.485

20,93

171.275.094

8,17

Chi Lê

6.890.688

-59,29

136.677.740

8,97

Đài Loan

13.297.696

-18,82

135.628.140

6,49

Các tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất

10.747.718

10,4

123.865.248

-0,65

Panama

9.882.455

-1,52

116.510.884

4,61

Nam Phi

9.932.924

68,75

105.523.014

-10,15

Nga

10.254.503

-0,85

102.082.412

-1,4

Slovakia

9.146.070

-5,63

97.816.299

10,37

Achentina

11.231.307

19,08

81.403.657

26,68

Ấn Độ

11.764.377

74,45

67.906.857

47,5

Singapore

7.321.639

-0,87

67.473.655

40,74

Philippines

5.723.461

15,78

55.281.550

18,95

Thụy Điển

6.308.254

48,34

52.612.059

21,45

Malaysia

5.356.563

-13,91

52.142.678

0,31

Séc

8.955.196

17,6

51.280.497

13,3

Thái Lan

5.301.469

14,99

46.928.698

14,76

Indonesia

5.293.415

35,92

44.808.102

49,32

Đan Mạch

6.769.087

84,99

44.429.466

-4,6

Israel

5.139.812

32,67

43.464.217

17,88

Thổ Nhĩ Kỳ

4.038.442

10,47

34.748.269

-16,13

Áo

2.504.038

-34,02

33.535.087

-2,05

Ba Lan

3.628.069

-12,62

31.379.372

37,24

Hy Lạp

2.463.165

-8,3

30.471.317

-4,57

New Zealand

2.817.899

1,1

28.610.464

2,3

Thụy Sỹ

2.282.499

-20,31

20.831.404

13,1

Na Uy

2.752.797

16,38

18.440.430

16,38

Phần Lan

2.412.922

88,48

17.340.848

4,95

Ucraina

566.483

-52,12

7.734.639

8,46

Bồ Đào Nha

896.910

77,34

3.065.481

65,82

Hungary

289.193

-13,2

1.906.886

3,08

(Theo số liệu của TCHQ)

Trung tâm Xúc tiến thương mại Bình Dương.