logo

Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Mỹ tăng trưởng khả quan

Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung ngày càng mở rộng với việc Mỹ áp thuế với 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc và Bắc Kinh đáp trả bằng thuế với 60 tỷ USD hàng hóa Washington có hiệu lực từ ngày 24/9.

Trong giai đoạn ngắn hạn, tác động của cuộc chiến thương mại đối với nền kinh tế của Việt Nam rất ít, không ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Bằng chứng là xuất nhập khẩu trong 9 tháng của Việt Nam sang Mỹ vẫn tốt đạt 34,9 tỷ USD, tăng 12,5%, cao hơn 2,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2017, thặng dư thương mại với Mỹ đạt 25 tỷ USD. Trong số các mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ trong 9 tháng năm 2018, điện thoại và linh kiện tăng 46%; Giày dép tăng 12,9%; Hàng dệt may tăng 11,9%.

Tính chung 8 tháng năm 2018, xuất khẩu cả nước ước đạt 155,4 tỷ USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI tăng trưởng 13,4%, đạt 110,3 tỷ USD, chiếm 71% tổng kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu của khối khu vực kinh tế trong nước đạt 45,11 tỷ USD, tăng 17,4%. 

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Đơn cử, hàng dệt may đạt 19,4 tỷ USD; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 18,4 tỷ USD...

Một trong những yếu tố tích cực đưa xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng trưởng mạnh trong 2 tháng vừa qua được nhận định là do xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện phục hồi trở lại sau khi đã giảm nhẹ trong tháng 6. 

Trong thời gian này, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 30,2 tỷ USD. Tiếp đến là EU, Trung Quốc, thị trường ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc ...

Ở chiều ngược lại, lượng hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ vào Việt Nam đạt 8,66 tỉ USD, tăng 38% so với cùng kỳ năm 2017.

Việt Nam đã xuất siêu 22,15 tỷ USD sang thị trường Mỹ trong 8 tháng đầu năm 2018. Tốc độ tăng xuất khẩu trong giai đoạn từ năm 2000 - 2017 bình quân đạt khoảng 28%/năm, từ 732 triệu USD năm 2000 lên 41,6 tỉ USD năm 2017. Nổi bật nhất là năm 2002 với mức tăng 127,3%, năm 2003 tăng 62,7%, năm 2006 tăng 32%.

Trong số hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ trong 8 tháng đầu năm 2018 có tới 6 nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD, trong đó dệt may đạt 9,11 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2017 và chiếm 29,6% tỷ trọng hàng xuất khẩu sang thị trường này. Đứng thứ hai là giày dép đạt 3,8 tỷ USD, tăng 13,4%, kế đến là điện thoại và linh kiện, gỗ và sản phẩm, máy móc thiết bị dụng cụ tăng lần lượt 38,5%; 15,3% và 25,1% đạt tương ứng 23,5 tỷ USD; 2,39 tỷ USD và 2,02 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 1,83 tỷ USD, giảm 9,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Nhìn chung, 8 tháng đầu năm nay xuất khẩu hầu hết các mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang thị trường Mỹ đều tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2018. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trước các rào cản thuế quan chống bán phá giá song xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ trong 8 tháng đầu năm 2018 vẫn đạt mức tăng trưởng khả quan 7% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 982,9 triệu USD. Ở chiều ngược lại, trong 8 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu một số mặt hàng sang thị trường Mỹ giảm như: Túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù giảm 9,5%, cà phê giảm 21,8%, hạt tiêu giảm 33,8%...

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Mỹ trong 8 tháng đầu năm 2018 (ĐVT: nghìn USD)

 

Tên hàng

Tháng 8/2018

8 tháng năm

2018

So sánh tăng/giảm (%)

Tỷ trọng (%)

T8/18 so với T7/18

8T/18 so với 8T/17

8T/2018

8T/2017

Tổng kim ngạch

4.891.441

30.813.713

14,8

12,5

100,0

100,0

Hàng dệt, may

1.398.626

9.114.342

7,3

11,7

29,6

29,8

Giày dép các loại

514.206

3.807.100

-1,4

13,4

12,4

12,3

Điện thoại các loại và linh kiện

791.626

3.536.209

79,0

38,5

11,5

9,3

Gỗ và sản phẩm gỗ

360.048

2.394.025

8,3

15,3

7,8

7,6

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

365.467

2.024.841

26,4

25,1

6,6

5,9

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

284.822

1.833.252

16,3

-9,9

5,9

7,4

Hàng thủy sản

188.711

982.903

17,0

7,0

3,2

3,4

Hạt điều

116.184

883.160

-2,9

8,4

2,9

3,0

Phương tiện vận tải và phụ tùng

113.782

848.723

4,2

10,3

2,8

2,8

Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù

119.951

845.247

-9,5

-9,5

2,7

3,4

Sắt thép các loại

79.169

537.149

2,6

92,3

1,7

1,0

Sản phẩm từ chất dẻo

45.753

312.976

6,0

25,5

1,0

0,9

Sản phẩm từ sắt thép

37.545

300.710

-7,6

23,5

1,0

0,9

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

50.077

300.467

7,1

14,4

1,0

1,0

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

42.033

255.631

21,6

40,8

0,8

0,7

Cà phê

23.661

247.653

15,3

-21,8

0,8

1,2

Kim loại thường khác và sản phẩm

24.338

228.294

-9,1

34,2

0,7

0,6

Vải mành, vải kỹ thuật khác

14.914

123.791

-4,7

18,8

0,4

0,4

Hạt tiêu

13.352

112.621

10,9

-33,8

0,4

0,6

Sản phẩm từ cao su

13.536

95.069

-2,0

26,7

0,3

0,3

Hàng rau quả

12.809

86.988

5,0

26,3

0,3

0,3

Giấy và các sản phẩm từ giấy

6.412

77.179

2,9

17,6

0,3

0,2

Dầu thô

 

68.424

-

-18,6

0,2

0,3

Dây điện và dây cáp điện

7.370

54.491

8,6

9,0

0,2

0,2

Sản phẩm gốm, sứ

4.886

50.673

-4,0

19,1

0,2

0,2

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

4.804

43.837

-14,4

24,0

0,1

0,1

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

5.632

43.035

6,8

3,7

0,1

0,2

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

7.351

40.344

13,9

-6,3

0,1

0,2

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

5.132

35.823

8,9

30,1

0,1

0,1

Xơ, sợi dệt các loại

3.697

29.500

-21,6

93,0

0,1

0,1

Cao su

2.983

27.533

-39,9

-26,5

0,1

0,1

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

2.209

27.041

-39,3

63,5

0,1

0,1

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

3.383

26.497

-4,7

-9,5

0,1

0,1

Sản phẩm hóa chất

2.399

21.083

28,9

-1,0

0,1

0,1

Hóa chất

4.187

21.071

3,3

-1,5

0,1

0,1

Gạo

748

8.259

-45,3

-4,6

0,0

0,0

Chè

698

4.948

46,2

-2,6

0,0

0,0

Nguồn: Theo số liệu của Tổng cục Hải quan

Tuy nhiên, về dài hạn, với việc mở rộng đánh thuế nhiều mặt hàng, Việt Nam sẽ chịu tác động lớn khi đang ngày càng tham gia sau vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Đặc biệt, nguy cơ Mỹ có thể đưa ra các rào cản về thuế và kỹ thuật đối với các nước đang thặng dư thương mại với Mỹ, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 12 về quy mô xuất khẩu và thứ 5 về quy mô thương mại với Mỹ. Không loại trừ các ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn vào Mỹ như dệt may, điện thoại, điện tử... sẽ chịu tác động. Khi thâm hụt thương mại lớn, Mỹ có thể đưa ra các rào cản đối với Việt Nam.

Bên cạnh đó, cuộc chiến kéo dài thúc đẩy xu hướng chuyển dịch sản xuất ra khỏi Trung Quốc, sang các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam. Bởi cùng với đó, các nhà đầu tư với công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường hay quy mô rất nhỏ có thể sẽ chuyển dịch sang Việt Nam.

Một yếu tố khác là gian lận thương mại. Trung Quốc và các nước chịu thuế của Mỹ có thể mượn Việt Nam làm bàn đạp xuất khẩu. Khi đó, Việt Nam rất dễ vi phạm các quy định của Mỹ.

Ngoài ra, môi trường tài chính, tiền tệ diễn biến không thuận lợi, dòng vốn đầu tư có thể đảo chiều. Bên canh đó, một số nước lớn có thể thúc đẩy các cơ chế hợp tác song phương. Đây cũng là một trong những hướng bất lợi cho Việt Nam.

Xung đột Mỹ - Trung tạo động lực để các nước triển khai hợp tác kinh tế đa phương nhằm khắc phục những rủi ro kinh tế. Các hiệp định đa phương như CPTPP cũng sẽ được thúc đẩy trong bối cảnh này, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại Việt Nam. Trong nhiều chỉ thị của Chính phủ thời gian qua nhấn mạnh việc đa phương hóa, tìm kiếm các thị trường tiêu thụ hàng hóa.

Ngoài ra, theo Tổng cục Thống kê, Việt Nam có thể tiếp tục thúc đẩy một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực cho thế mạnh cạnh tranh và thay thế được hàng Trung Quốc như dệt may, da giày... vào Mỹ.

Trung tâm Xúc tiến thương mại.