logo

​Sở Công Thương: Xây dựng dữ liệu công thương từ góc nhìn thực tế

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý nhà nước đang từng bước được đẩy mạnh, việc số hóa các thông tin của doanh nghiệp thành bộ cơ sở dữ liệu (CSDL) sẽ giúp việc quản lý thông tin được nhanh chóng và thuận tiện.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý nhà nước đang từng bước được đẩy mạnh, việc số hóa các thông tin của doanh nghiệp thành bộ cơ sở dữ liệu (CSDL) sẽ giúp việc quản lý thông tin được nhanh chóng và thuận tiện.

Trong các hoạt động của ngành Công Thương, thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng. Trên tầm vĩ mô, để phục vụ quản lý nhà nước, thông tin công nghiệp và thương mại là một căn cứ quan trọng để hoạch định chính sách phát triển sản xuất, thương mại trong nước cũng như hội nhập quốc tế; xây dựng chiến lược, quy hoạch, xây dựng, giám sát và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch công nghiệp và thương mại. Ở tầm vi mô, thông tin công nghiệp và thương mại, mà trước hết là thông tin thị trường đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc kịp thời điều chỉnh các cân đối cung - cầu nhằm ổn định thị trường, phục vụ tốt sản xuất và đời sống xã hội; giúp cho việc định hướng sản xuất - kinh doanh của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp.

Trong thời gian vừa qua, hoạt động tổng hợp, thống kê các dữ liệu của ngành Công thương tại Trung ương và địa phương đã đáp ứng một phần nhu cầu về số liệu, thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước, xây dựng các báo cáo trình Chính phủ, Quốc hội, đồng thời cung cấp thông tin về kinh tế công nghiệp và thương mại cho các doanh nghiệp, hiệp hội; phục vụ hoạt động đầu tư; công tác nghiên cứu khoa học; phổ biến thông tin kinh tế công nghiệp và thương mại cho cộng đồng dân cư... Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các vấn đề trong thực tiễn như sau:

-        Chưa có sự phối hợp, chia sẻ, sử dụng kết quả tổng hợp, thống kê các dữ liệu giữa các đơn vị trong ngành công thương với nhau, dẫn đến khả năng lãng phí về thời gian, công sức và nguồn lực của xã hội.

-        Các số liệu chủ yếu lưu trữ trong các báo cáo giấy, tệp văn bản và số liệu trong các bảng tính do đó chưa đáp ứng kịp thời, khó khăn và tốn thời gian khi tra cứu, khai thác; chưa phát huy được hết các giá trị của các số liệu này; Số liệu thu thập được chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc khai thác, sử dụng, chưa đủ tin cậy để đánh giá và dự báo phục vụ cho công tác hoạch định chính sách, phát triển kinh tế xã hội bền vững.

-        Việc công bố, công khai thông tin, dữ liệu ngành Công Thương vì thế mà không đầy đủ, không cung cấp được cái nhìn tổng quát, đầy đủ đối với hiện trạng tình hình công nghiệp và thương mại. Nên chưa hỗ trợ hiệu quả cho người dân và doanh nghiệp trong vấn đề tìm hiểu về môi trường đầu tư, chính sách ưu đãi của Nhà nước, điều kiện giao thông... trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

-        Việc phân tích, so sánh đánh giá xu hướng theo các chỉ tiêu, ngành lĩnh vực hoặc theo thời gian, việc phục vụ đa mục tiêu, phát huy hiệu quả và tính chất quan trọng của thông tin dữ liệu, phục vụ hoạch định các chính sách, định hướng về công nghiệp, thương mại, hướng tới phát triển kinh tế xã hội bền vững khó thực hiện.

-        Công nghệ thông tin chưa được ứng dụng mạnh trong lĩnh vực thu thập, quản lý, xử lý, trao đổi và cung cấp thông tin. Chưa có kết nối đến hệ thống cơ sở dữ liệu ngành công thương của Bộ Công thương và các Sở Công thương các địa phương.

Ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường phát triển đầy rủi ro hiện nay, khi có biến động trên thị trường (chẳng hạn giá cả tăng vọt về một mặt hàng nào đó), quá trình thu thập cơ sở dữ liệu để phân tích hiện trạng, đánh giá tình hình về sản xuất kinh doanh mặt hàng bị ảnh hưởng hoặc nhóm mặt hàng thiết yếu nào đó với các thông tin về sản xuất, lưu thông, tồn đầu kỳ, xuất nhập khẩu... để đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời nhằm khắc phục hậu quả, bình ổn giá thị trường còn lúng túng và mất nhiều thời gian.

Như vậy việc thiết lập và vận hành CSDL ngành Công Thương, tập hợp thống nhất tất cả các số liệu theo các chỉ tiêu thống kê ngành là hết sức cần thiết. Sở Công Thương Bình Dương triển khai xây dựng dự án dựa trên nhu cầu thực tế của người dân và định hướng của Nhà nước. Đó là

  1. Việc xây dựng phù hợp với định hướng của Đảng và Nhà nước.

Nghị Quyết số 36-NQ/TW ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Trong Nghị Quyết số 36-NQ/TW, Bộ Chính trị đã khẳng định 4 quan điểm chính gồm:

-        Thứ nhất, CNTT là một công cụ hữu hiệu tạo lập phương thức phát triển mới và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là một trong những động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, xã hội thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế; góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước.

-        Thứ hai, ứng dụng, phát triển CNTT là một yếu tố quan trọng bảo đảm thực hiện thành công 3 đột phá chiến lược, cần được chú trọng, ưu tiên trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

-        Thứ ba, ứng dụng, phát triển CNTT trong tất cả các lĩnh vực song có trọng tâm, trọng điểm. Ưu tiên ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính, cung cấp dịch vụ công, trước hết là trong các lĩnh vực liên quan tới doanh nghiệp, người dân như giáo dục, y tế, giao thông, nông nghiệp; ưu tiên phát triển công nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với thu hút các tập đoàn công nghiệp CNTT đa quốc gia, hình thành các trung tâm nghiên cứu, phát triển.

-        Thứ tư, đầu tư cho CNTT là đầu tư cho phát triển và bảo vệ đất nước, cần được đi trước một bước trên cơ sở quản lý tốt, tăng cường khả năng làm chủ, sáng tạo công nghệ, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, giữ vững chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế cũng đã nêu ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về ứng dụng, phát triển CNTT là:

-        Đổi mới, nâng cao nhận thức và tăng cường lãnh đao của Đảng đối với ứng dụng, phát triển CNTT.

-        Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về ứng dụng, phát triển CNTT.

-        Xây dựng hệ thống hạ tầng thông tin quốc gia đồng bộ, hiện đại.

-        Ứng dụng CNTT rộng rãi, thiết thực, có hiệu quả cao.

-        Tạo điều kiện thuận lợi phát triển công nghiệp CNTT, kinh tế tri thức.

-        Phát triển nguồn nhân lực CNTT đạt chuẩn quốc tế, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, tiếp thu, làm chủ và sáng tạo công nghệ mới.

-        Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quốc phòng, an ninh; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, nâng cao năng lực quản lý các mạng viễn thông, truyền hình Internet.

-        Tăng cường hợp tác quốc tế.

Trong đó, nhiệm vụ Ứng dụng CNTT rộng rãi, thiết thực, có hiệu quả đã chỉ ra việc Xây dựng có hiệu quả Chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao và trong nhiều lĩnh vực, gắn kết chặt chẽ với triển khai Chương trình tổng thể cái cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Tổ chức nhân rông mô hình tiêu biểu Chính quyền điện tử. Tăng cường đánh giá, đôn đốc triển khai công tác ứng dụng công nghệ thông tin.

  1.  Phù hợp với quy hoạch của Bộ Công Thương.

Thông tư số 40/2016/TT-BCT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ Công Thương ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công thương, là công cụ để thu thập và tổng hợp thông tin thống kê ngành Công thương, đồng thời là căn cứ để Xây dựng Chế độ Báo cáo thống kê ngành Công thương, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc kịp thời điều chỉnh các cân đối cung - cầu nhằm ổn định thị trường, phục vụ tốt sản xuất và đời sống xã hội; giúp cho việc định hướng sản xuất - kinh doanh của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp.

Thông tư số 41/2016/TT-BCT cũng đã có quy định chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với Sở Công thương các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm 14 biểu mẫu báo cáo theo tháng, 6 tháng, năm yêu cầu các Sở Công thương gửi báo cáo về các đơn vị của Bộ Công thương như Cục Công nghiệp địa phương, Cục Xuất nhập khẩu, Vụ Thị trường trong nước ...

  1.  Phù hợp với nhu cầu của Sở Công thương tỉnh Bình Dương.

Hiện nay, để phục vụ các nhu cầu phân tích, tổng hợp số liệu ngành công thương tại tỉnh Bình Dương nhằm mục đích hỗ trợ các cơ quan quản lý của tỉnh trong quá trình chỉ đạo, điều hành, cũng như công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành công thương trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong từng giai đoạn, từng thời kỳ, Sở Công thương Bình Dương đang phải tiến hành thu thập dữ liệu hết sức thủ công, số liệu sau khi được thu thập cũng chỉ được lưu trữ trong các báo cáo giấy, tệp văn bản và số liệu trong các bảng tính do đó chưa đáp ứng kịp thời, khó khăn và tốn thời gian khi tra cứu, khai thác; Từ đó dẫn đến việc phân tích, so sánh đánh giá xu hướng, phục vụ yêu cầu hoạch định các chính sách, định hướng về công nghiệp, thương mại, hướng tới phát triển kinh tế - xã hội chậm chạp, thiếu chính xác; khả năng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp không đạt hiệu quả cao.

Sở Công Thương Bình Dương họp lấy ý kiến các đơn vị có liên quan về Báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án

Bên cạnh đó theo sự chỉ đạo, định hướng của Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương thì trong giai đoạn 2016 – 2020, phải tiến hành ứng dụng hiệu quả CNTT trong tất cả lĩnh vực quản lý của các cấp chính quyền, bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp, nhằm tăng tốc độ xử lý công việc, giảm chi phí hoạt động, xây dựng Chính quyền điện tử, góp phần xây dựng tỉnh Bình Dương trở thành đô thị thông minh theo hướng bền vững, văn minh, hiện đại và hội nhập quốc tế; Tích hợp, kết nối các hệ thống thông tin, CSDL trọng điểm của tỉnh với nhau và với các hệ thống cấp quốc gia, tạo lập môi trường chia sẻ thông tin qua mạng rộng khắp giữa các cơ quan trên cơ sở Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam và Kiến trúc Chính quyền điện tử tỉnh Bình Dương.

Vì thế nhu cầu của Sở Công Thương Bình Dương cần thiết phải có hệ thống Cơ sở dữ liệu ngành Công Thương phục vụ công tác phân tích, tổng hợp, hỗ trợ ra quyết định cũng như hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.

Cơ sở dữ liệu Công Thương ra đời sẽ hỗ trợ đáng kể trong việc minh bạch dữ liệu quản lý của ngành. Thuận tiện trong việc tra cứu của người dân, doanh nghiệp.                                                              

Ngọc Dương – Văn phòng Sở.