logo

PMI Việt Nam nhảy vọt lên 55,7 điểm, dẫn đầu ASEAN

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) lĩnh vực sản xuất của Việt Nam từ mức 53,9 điểm trong tháng 5 tăng vọt lên 55,7 điểm, dẫn đầu các nước ASEAN.

Trong tháng 6, chỉ số PMI tăng vọt cho thấy sức khỏe của lĩnh vực sản xuất đã cải thiện ở mức đáng kể, và đây là mức cải thiện chỉ kém hơn mức kỷ lục đã được ghi nhận trong tháng 3/2011. Đồng thời, các điều kiện kinh doanh ở Việt Nam được cải thiện mạnh mẽ và là một trong những mức cải thiện đáng kể nhất kể từ khi cuộc khảo sát bắt đầu vào tháng 3/2011. Như vậy, các điều kiện kinh doanh đã cải thiện hơn trong suốt 31 tháng qua.

Sản lượng ngành sản xuất có tốc độ tăng nhanh trong ba tháng liên tiếp. Mức tăng nhanh thứ hai kể từ tháng 3/2011. Số lượng đơn đặt hàng mới cũng tăng liên tục kể từ tháng 12/2015. Đây là tốc độ tăng số lượng đơn đặt hàng mới mạnh nhất trong lịch sử của khảo sát tính đến nay.

Sản xuất công nghiệp tháng 6 đạt mức tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Sáu ước tính tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 3,6%;ngành chế biến, chế tạo tăng 15,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 10%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8%.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 12,9%, quý II tăng 8,4%), cao hơn mức tăng 7% của cùng kỳ năm 2017.

Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 12,7%, đóng góp 9,7 điểm % vào mức tăng chung nhưng đang có xu hướng tăng chậm lại (quý I tăng 15,7%; quý II tăng 10,1%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,4%, đóng góp 0,9 điểm %; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,7%, đóng góp 0,1 điểm %; riêng ngành khai khoáng giảm 1,3% (chủ yếu do khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,7%), làm giảm 0,2 điểm % mức tăng chung.

Trong 6 tháng đầu năm nay, chỉ số sản xuất công nghiệp của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó Hà Tĩnh là địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất với mức tăng 170,9%, chủ yếu do có sự đóng góp của Tập đoàn Formosa.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 24%; Bắc Ninh tăng 19,2%; Thái Nguyên tăng 12,1%; Vĩnh Phúc tăng 11,9%; Quảng Ninh tăng 11%;  Hải Dương tăng 10,6%; Bình Dương tăng 8,8%; Đồng Nai tăng 8,3%; Hà Nội tăng 8%; Đà Nẵng tăng 7,8%; Cần Thơ tăng 7,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,1%; Quảng Nam tăng 5,6%; Bà Rịa -Vũng Tàu tăng 2%.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2018 ước tính tăng 7,08% so với cùng kỳ năm trước (Quý I tăng 7,45%; quý II tăng 6,79%), là mức tăng cao nhất của 6 tháng kể từ năm 2011 trở về đây, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả trong việc Chính phủ chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2018.

Trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,93%, đóng góp 9,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,07%, đóng góp 48,9%; khu vực dịch vụ tăng 6,90%, đóng góp 41,4%.

Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,15% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,78%; khu vực dịch vụ chiếm 41,82%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,25% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2017 là: 15,06%; 32,75%; 41,82%; 10,37%).

Xét về góc độ sử dụng GDP 6 tháng đầu năm, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,13% so với cùng kỳ năm 2017; tích lũy tài sản tăng 7,06%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 15,72%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,83%.

Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Trong 6 tháng đầu năm 2018, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 15,65 tỷ USD bao gồm cả dầu thô và xuất siêu 14,63 tỷ USD không kể dầu thô, cụ thể:

- Xuất khẩu kể cả dầu thô đạt 80,86 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2017 và chiếm gần 71% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô đạt 79,84 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ 2017 và chiếm 70,1% kim ngạch xuất khẩu.

- Nhập khẩu đạt 65,21 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2017 và chiếm gần 58,6% kim ngạch nhập khẩu.

Trong 6.500 doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra, đại diện cho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 82,6% doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo cho rằng, tình hình sản xuất - kinh doanh quý II/2018 so với quý I/2018 tốt lên và giữ ổn định (45% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và 37,6% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định); có 17,4% doanh nghiệp cho rằng, sản xuất - kinh doanh khó khăn hơn.

Dự báo quý III lạc quan hơn so với quý II khi có 88,5% doanh nghiệp cho rằng, tình hình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp tốt lên (52,5%) và giữ nguyên (36%); 11,5% doanh nghiệp vẫn dự báo tình hình sản xuất - kinh doanh khó khăn hơn.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất - kinh doanh bao gồm: Tính cạnh tranh của hàng trong nước, nhu cầu thị trường trong nước thấp với 46,2% doanh nghiệp, khó khăn về tài chính, khó khăn về nguồn nhân lực… 

Từ ngày 01/01 - 15/5/2018, có 299 nghìn bộ hồ sơ của gần 3.200 doanh nghiệp tham gia cơ chế một cửa quốc gia (NSW).

Một số bộ, ngành đã tích cực vào cuộc, như Bộ Khoa học và Công nghệ có 4 thủ tục hành chính qua NSW, gồm: Kiểm tra về đo lường đối với phương tiện đo, lượng của hàng đóng gói sẵn khi nhập khẩu; phê duyệt phương tiện đo nhập khẩu; cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do; kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của bộ.

Việt Nam là một trong 5 quốc gia đầu tiên trong khu vực ASEAN thực hiện chính thức NSW cùng với Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan.

Ban Giám đốc điều hành Ngân hàng Thế giới (WB) đã phê duyệt khoản tín dụng trị giá 80 triệu USD nhằm hỗ trợ dự án phát triển tổng hợp đô thị động lực tại Thái Nguyên (kết nối giao thông, hệ thống thoát nước và thu gom nước thải, không gian công cộng và hệ thống trường mầm non).

Tổng chi phí dự án khoảng 100 triệu USD, trong đó 80 triệu USD được tài trợ từ nguồn vốn IDA của Hiệp hội Phát triển quốc tế hỗ trợ giai đoạn chuyển đổi và 20 triệu USD từ nguồn vốn đối ứng của chính quyền tỉnh.

Trong 6 tháng đầu năm 2018 cả nước có 1.366 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký cấp mới 11,8 tỷ USD, bằng 99,7% so với cùng kỳ năm 2017; 507 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm 4,43 tỷ USD, bằng 86,2% so với cùng kỳ năm 2017; 2.749 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, với giá trị vốn góp gần 4,1 tỷ USD, tăng 82,4% so với cùng kỳ 2017. 

6 tháng đầu năm, chỉ số giá xuất nhập khẩu hàng hoá lần lượt tăng 0,71% và 1,08%

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý II năm nay tăng 1,04% so với quý trước và tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,62% và giảm 0,96%; nhóm nhiên liệu tăng 7,36% và tăng 21,95%; nhóm hàng chế biến, chế tạo tăng 1,09% và 1,2%.

Chỉ số giá xuất khẩu quý II so với quý trước của một số mặt hàng như sau: Quặng và khoáng sản tăng 36,55%; Dầu thô tăng 8,79%; Điện thoại và thiết bị di động tăng 5,74%; Thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 3,62%... Như vậy, tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá tăng 0,71% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong khi đó, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý II tăng 0,69% so với quý trước và tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,23% và giảm 0,36%; nhóm nhiên liệu tăng 5,26% và tăng 12,56%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo tăng 0,54% và tăng 1,02%.

Chỉ số giá nhập khẩu quý II so với quý trước của một số mặt hàng như sau: Xăng dầu các loại tăng 7,12%; hàng rau quả tăng 4,59%; sắt, thép tăng 3,32%; hóa chất tăng 3,07%... Như vậy, tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 1,08% so với cùng kỳ năm trước.

Theo Tổng cục Thống kê, tỷ giá thương mại hàng hóa (Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa) quý II năm nay tăng 0,35% so với quý trước và tăng 0,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ giá thương mại của xăng dầu giảm 4,89% và tăng 11,36%; cao su tăng 1,28% và giảm 9,73%...

Tính chung 6 tháng đầu năm, tỷ giá thương mại hàng hoá giảm 0,37% so với cùng kỳ năm 2017, chủ yếu do tỷ giá thương mại của 4 nhóm mặt hàng: Rau quả, hóa chất, cao su, gỗ và sản phẩm gỗ giảm, trong đó nhóm cao su giảm mạnh tới 9,83%.

Trong 6 tháng đầu năm 2018, giá trị xuất khẩu lâm sản chính đạt khoảng 4,15 tỷ USD (bằng 46% kế hoạch năm), tăng gần 8,4% so với cùng kỳ năm 2017. Ðây là kết quả của quá trình cơ cấu lại ngành lâm nghiệp trong thời gian qua với sự chuyển biến của nhiều mô hình sản xuất lâm nghiệp giá trị cao, kinh doanh gỗ lớn.

Nhất là lĩnh vực sản xuất, chế biến lâm sản xuất khẩu đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó, thị trường gỗ trong nước có những chuyển biến và khởi sắc, tạo động lực cho sản xuất phát triển; thúc đẩy các tổ chức, cá nhân đầu tư vào sản xuất lâm nghiệp. 

Liên minh châu Âu (EU) hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba và là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Đặc điểm nổi bật trong cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU là tính bổ sung rất lớn, ít mang tính cạnh tranh đối đầu trực tiếp.

Kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng hơn 12 lần, từ 4,1 tỷ USD trong năm 2000 lên hơn 50,4 tỷ USD vào năm 2017; trong đó xuất khẩu của Việt Nam vào EU tăng 13,6 lần (từ 2,8 tỷ USD lên hơn 38,3 tỷ USD) và nhập khẩu vào Việt Nam từ EU tăng hơn 9 lần (1,3 tỷ USD lên 12,1 tỷ USD). Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU là giầy dép, dệt may, cà phê, đồ gỗ, hải sản.

EU cũng là nhà đầu tư lớn vào Việt Nam. Tính đến năm 2017, đã có 24 trong số 28 nước EU đầu tư vào Việt Nam với khoảng 2.000 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 21,5 tỷ USD.

Các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, tập trung nhiều nhất vào công nghiệp, xây dựng và một số ngành dịch vụ.

Trung tâm Xúc tiến thương mại Bình Dương.