logo

Cơ hội xuất khẩu sang thị trường châu Phi - Trung Đông

Các mặt hàng lương thực, thực phẩm của Việt Nam có nhiều triển vọng xuất khẩu sang thị trường châu Phi - Trung Đông vì nhu cầu từ các thị trường này là rất lớn, yêu cầu về chất lượng không quá khắt khe.

Mặc dù cách xa về địa lý, nhưng Việt Nam và các nước thuộc khu vực Trung Đông, châu Phi có mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp và không ngừng được củng cố, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và đầu tư.

Khu vực Trung Đông - châu Phi gồm 70 quốc gia với dân số trên 1,6 tỷ người, có nhu cầu rất lớn về nhập khẩu hàng hóa và được coi là thị trường đầy tiềm năng cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Trong năm 2016, kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và các nước Trung Đông, châu Phi đạt 23,3 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 14,9 tỷ USD và nhập khẩu 8,4 tỷ USD.

Châu Phi có 55 nước, dân số hơn 1,3 tỷ người, kinh tế khu vực này tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây kéo theo nhu cầu tiêu dùng cũng tăng theo. Thị trường châu Phi với ưu tiên về giá cả. Hiện có 43/55 nước châu Phi đã tham gia vào WTO; các nước dỡ dần hàng rào phi thuế quan, giảm thuế nhập khẩu.

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Châu Phi giai đoạn 2006-2016 tăng trưởng nhanh chóng, từ 610 triệu USD năm 2006 lên gần 3,2 tỷ USD năm 2015 và gần 2,8 tỷ năm 2016. Nhìn chung, trong cán cân thương mại với châu Phi, Việt Nam thường xuất siêu trên 1 tỷ USD. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam tại châu Phi không ngừng được mở rộng. Cho tới nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với tất cả 55 nước trong khu vực.

Theo số liệu của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC), năm 2016 tổng kim ngạch nhập khẩu của Châu Phi từ thế giới ước đạt gần 460 tỷ USD. Trong đó, Nam Phi nhập khẩu gần 75 tỷ USD, Ai Cập trên 58 tỷ USD, Algeria trên 47 tỷ USD…

Như vậy xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực châu Phi mới chỉ chiếm khoảng 0,6% trên tổng nhu cầu nhập khẩu của châu Phi. Nước ta còn nhiều cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này.

Khu vực Trung Đông gồm 15 quốc gia, đa số các nước trong khu vực có sự tương đồng về văn hóa và tôn giáo. Khu vực Trung Đông có nhiều dầu mỏ và các tài nguyên khoáng sản khác, có hoạt động thương mại phát triển, sức mua lớn và khả năng thanh toán cao. Do điều kiện lịch sử, tự nhiên (đất đai ít, địa hình sa mạc, ít đồng bằng, thiếu nước) nên nhiều nước Trung Đông có ngành nông nghiệp, thủy sản chưa phát triển, các ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa tiêu dùng còn hạn chế, nên phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu để phục vụ tiêu dùng.

Cũng giống như châu Phi, các nước Trung Đông có nhu cầu cao đối với nhập khẩu lương thực, thực phẩm, nông sản, thủy sản, hàng tiêu dùng, gia dày, dệt may... Nhiều nước khu vực này có sức mua lớn và khả năng thanh toán cao do GDP trên đầu người ở mức cao. 80% lương thực, thực phẩm khu vực Trung Đông phải nhập khẩu hàng năm với khoảng 40 tỷ USD (năm 2016), đến năm 2035 ước nhập khẩu khoảng 70 tỷ USD về lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

Đặc biệt, nhu cầu với nông sản từ các nước châu Phi là rất lớn. Năm 2016, các nước này nhập khẩu nông sản trị giá 35 tỷ USD, ước tính sẽ đạt tới 110 tỷ USD vào năm 2025, trong khi yêu cầu về chất lượng, mẫu mã không quá cao. Gạo, thủy sản, cà phê, sản phẩm dệt may, giày dép các loại, hạt tiêu là những mặt hàng tiêu thụ rất nhiều tại thị trường châu Phi. Đây cũng là những mặt hàng thế mạnh của Việt Nam.

Tuy nhiên, trong năm 2016, các doanh nghiệp Việt Nam mới xuất khẩu lương thực, thực phẩm trị giá khoảng 775 triệu USD sang Trung Đông, chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Điều này cho thấy cơ hội mở rộng xuất khẩu sang thị trường này còn rất nhiều dư địa và cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam.

 Hầu hết các nước ở Tây Á hiện đang dành nhiều quan tâm và mong muốn thúc đẩy hơn nữa phát triển quan hệ kinh tế thương mại với Việt Nam trong chính sách hướng đông của họ.

Xét về tổng thể, các nước Tây Á có nhu cầu lớn về nhập khẩu hàng hóa và khả năng thanh toán cao. Các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và nông nghiệp cả phần lớn các nước Tây Á (ngoại trừ Thổ Nhĩ Kỳ và Isarel) chưa phát triển, nên tiêu dùng trong  nước phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu. Thu nhập của người dân tăng cũng kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng lên và khả năng thanh toán được đảm bảo hơn.

Thuế nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng cơ bản, sản phẩm điện tử và máy tính tại khu vực nhìn chung tương đối thấp. Tại các nước Vùng Vịnh (GCC), thuế nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng, nông sản rất thấp (khoảng từ 0%-5%) và hầu như không áp dụng các rào cản kỹ thuật.

Trong một thời gian dài, doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam quá tập trung vào các  thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Nhật Bản... mà gần như bỏ quên thị trường châu Phi và Trung Đông, trong khi đó đây lại là thị trường có sức mua lớn, lại tương đối dễ tính, nên phù hợp với khả năng của doanh nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh những cơ hội cũng có những thách thức mà doanh nghiệp Việt cần vượt qua để có thể đẩy mạnh, mở rộng xuất khẩu sang các thị trường này.

Cụ thể, các doanh nghiệp  xuất khẩu phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu: Nhãn mác, mã ký hiệu, thông tin sản phẩm, đặc biệt là giấy chứng nhận halal ở các nước hồi giáo.

Hiện nay, trong các giao dịch thương mại, đang có xu hướng gia tăng tình trạng lừa đảo của một số doanh nghiệp đến từ các nước Tây Phi. Trong khi đó, các doanh nghiệp cũng có thể gặp rủi ro trong thanh toán. Nhiều doanh nghiệp của Trung Đông thường đề nghị thanh toán theo hình thức TT hoặc DP trả chậm, không mở L/C, mua CIF. Trước những yêu cầu thanh toán D/P, doanh nghiệp Việt cần đưa ra các mức % đặt cọc để đảm bảo an toàn cho các đơn hàng (tốt nhất là 30% trở lên).

Ngoài ra, doanh nghiệp Việt cũng nên đề nghị đối tác sử dụng L/C không hủy ngang mở tại các ngân hàng uy tín, đồng thời hạn chế cho khách hàng trả chậm. Doanh nghiệp Việt không nên sử dụng hình thức thanh toán D/A (nhờ thu chấp nhận chứng từ), hay chuyển tiền bằng Western Union cho việc thanh toán.

Ngoài ra, để hạn chế rủi ro, doanh nghiệp Việt cần có đủ thông tin về đối tác, về thị trường; cảnh giác với các thương vụ quá hấp dẫn; thông thạo nghiệp vụ và thường xuyên nâng cao, trau dồi kỹ năng đàm phán, ký kết hợp đồng; sử dụng tư vấn cho thẩm định đối tác, giúp cho đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng; sẵn sàng cho giải quyết tranh chấp.

Nguồn: Trung tâm Xúc tiến thương mại.