logo

Xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 9 và 9 tháng năm 2018

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan trong tháng 9/2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 40,64 tỷ USD, giảm 9,2% so với tháng 8 năm 2018. Tháng 9/2018, trị giá xuất khẩu, nhập khẩu đều giảm so với tháng trước, trong đó xuất khẩu đạt 21,12 tỷ USD, giảm 10% so với tháng trước (tương ứng giảm 2,36 tỷ USD); nhập khẩu đạt 19,51 tỷ USD, giảm 8,3% (tương ứng giảm 1,77 tỷ USD).

Tính đến hết tháng 9/2018 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 352,61 tỷ USD, tăng 13,7% (tương ứng tăng 42,44 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước và vượt mức kim ngạch của cả năm 2016 (351,38 tỷ USD). Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 179,47 tỷ USD, tăng 15,8% và nhập khẩu đạt 173,14 tỷ USD, tăng 11,6%.

Cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 9/2018 thặng dư 1,61 tỷ USD. Kết quả thực hiện này đã làm tăng mức xuất siêu của Việt Nam trong 9 tháng/2018 lên con số kỷ lục 6,32 tỷ USD.

Tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 9/2018 đạt 27,45 tỷ USD, giảm 9,1% so với tháng trước, đưa trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong 9 tháng/2018 đạt 230,43 tỷ USD, tăng 13,8%, tương ứng tăng 28,01 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2017.

Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng này đạt 15,43 tỷ USD, giảm 8,3% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu của khối này trong 9 tháng/2018 lên 126,63 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Ở chiều ngược lại, trị giá nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 9/2018 đạt 12,02 tỷ USD, giảm 10,2% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu của khối này trong 9 tháng/2018 đạt 103,8 tỷ USD, tăng 11,5% so với 9 tháng/2017.

Cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 9/2018 có mức thặng dư trị giá 3,4 tỷ USD, đưa cán cân thương mại trong 9 tháng từ đầu năm 2018 lên mức thặng dư trị giá 22,83 tỷ USD.

Xuất khẩu

Trị giá xuất khẩu hàng hóa cả nước trong tháng đạt 21,12 tỷ USD, giảm 10% so với tháng trước, tương ứng giảm 2,37 tỷ USD về số tuyệt đối.

Hầu hết các nhóm hàng trong tháng 9/2018 đều suy giảm so với tháng trước, trong đó giảm mạnh nhất là các nhóm hàng: hàng dệt may giảm 461 triệu USD; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 258 triệu USD; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng giảm 240 triệu USD; giày dép các loại giảm 232 triệu USD.

Trong 9 tháng đầu năm 2018, trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 179,47 tỷ USD, tăng 15,8%, tương ứng tăng 24,44 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 7 nhóm hàng tăng trưởng mạnh là: điện thoại các loại và linh kiện tăng 5,16 tỷ USD, hàng dệt may tăng 3,18 tỷ USD; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 3,03 tỷ USD; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng tăng 2,73 tỷ USD, sắt thép các loại tăng 1,21 tỷ USD, máy ảnh máy quay phim và linh kiện tăng 1,13 tỷ USD, giày dép các loại tăng 1,08 tỷ USD.

Nhóm hàng xuất khẩu chính

Điện thoại các loại và linh kiện: Trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 9 đạt 5,09 tỷ USD, giảm nhẹ 1,4% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến hết tháng 9/2018, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước đạt 36,69 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 3 quí đầu năm, xuất khẩu nhóm hàng này sang EU (28 nước) đạt 10,14 tỷ USD, tăng 10,9%; xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tăng gấp 2,4 lần, đạt trị giá gần 5,78 tỷ USD; sang thị trường Hoa Kỳ đạt 4,16 tỷ USD, tăng 43,7%; sang thị trường Hàn Quốc đạt 3,34 tỷ USD, tăng 17,1%... so với cùng kỳ năm trước.

Hàng dệt may: Xuất khẩu hàng dệt may trong tháng đạt 2,7 tỷ USD, giảm 14,6% so với tháng trước. Qua đó, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng/2018 lên 22,45 tỷ USD, tăng 16,5%.

Sau 3/4 chặng đường của năm 2018, Hoa Kỳ vẫn là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất từ Việt Nam với trị giá đạt 10,33 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, và chiếm 46% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước; tiếp theo là thị trường EU (28 nước) là 3,08 tỷ USD, tăng 11,4%; thị trường Nhật Bản là 2,8 tỷ USD, tăng 24,2%;...

Máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện: trị giá xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện trong tháng 9 đạt 2,64 tỷ USD, giảm 8,9% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng đầu năm đạt 21,58 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 9 tháng/2018, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc dẫn đầu với trị giá đạt hơn 6 tỷ USD, tăng 28,8%; xuất khẩu sang EU (28 nước) đạt 4,05 tỷ USD, tăng 21,1%; sang Hoa Kỳ đạt trị giá 2,07 tỷ USD giảm 14,1%; sang Hàn Quốc đạt trị giá 1,94 tỷ USD, tăng 48,5% so với cùng thời gian năm trước…

Nhóm hàng nông sản: (bao gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su)

Xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 1,26 tỷ USD, giảm 20,6% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng tính từ đẩu năm đạt 13,63 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2017.

Tính đến hết tháng 9/2018, xuất khẩu nhóm hàng nông sản sang Trung Quốc đạt 4,74 tỷ USD, giảm 2,3%; sang Hoa Kỳ đạt 1,51 tỷ USD giảm 4,6%; sang Indonexia đạt 527 triệu USD, tăng 7,4 lần so với cùng kỳ năm 2017…

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 9/2018 đạt 1,35 tỷ USD, giảm 15,1% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 9 trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 12,14 tỷ USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước.

Các thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng trong 9 tháng từ đầu năm 2018 chủ yếu gồm: Hoa Kỳ với 2,34 tỷ USD, tăng 29,5%; sang EU (28 nước) đạt trị giá 1,63 tỷ USD, tăng 24,7%; Ấn Độ với 1,48 tỷ USD, tăng gấp 5,9 lần; Nhật Bản với 1,34 tỷ USD tăng 6,2% so với cùng thời gian năm 2017...

Giày dép các loại: xuất khẩu giầy dép các loại trong tháng 9/2018 đạt 1,17 tỷ USD, giảm 16,6% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu giày dép của cả nước trong 9 tháng/2018 đạt 11,74 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 quí đầu năm sang các thị trường Hoa Kỳ đạt trị giá 4,27 tỷ USD, tăng 13,5%; sang EU (28 nước) đạt trị giá 3,38 tỷ USD, tăng nhẹ 1,6%; sang thị trường Trung Quốc đạt trị giá 1,06 tỷ USD, tăng 28,5%; sang thị trường Nhật Bản đạt 634 triệu USD, tăng 14,7% so với cùng thời gian năm 2017…

Gỗ và sản phẩm gỗ: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt trị giá 715 triệu USD, giảm 10,3% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 9 trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 6,37 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước.

Gỗ và sản phẩm gỗ trong 9 tháng/2018 được xuất khẩu chủ yếu đến các thị trường Hoa Kỳ với trị giá 2,73 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước; sang Nhật Bản với 827 triệu USD, tăng 8%; sang Trung Quốc với 812 triệu USD, tăng 4,5%; …

Hàng thủy sản: trị giá xuất khẩu trong tháng là 778 triệu USD, giảm 9,7% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng đầu năm nay đạt 6,36 tỷ USD, tăng 6,7% so với cùng thời gian năm 2017.

 Hàng thủy sản trong 9 tháng tính từ đầu năm 2018 chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường: Hoa Kỳ: 1,14 tỷ USD; tăng 9,6%; EU (28 nước) với 1,11 tỷ USD, tăng 7,7%; Nhật Bản: 994 triệu USD, tăng 5,4%; Trung Quốc: 720 triệu USD, giảm 7,5%… so với một năm trước đó.

Phương tiện vận tải và phụ tùng: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 569 triệu USD, giảm 13,9% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng/2018 đạt 5,89tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Các thị trường nhập khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng từ Việt Nam trong 9 tháng đầu năm gồm: Nhật Bản với trị giá đạt 1,79 tỷ USD, tăng 15%; sang Hoa Kỳ đạt 951 triệu USD, tăng 10%; sang Thái Lan đạt 282 triệu USD, tăng 14,9%; sang Singapore đạt trị giá 279 triệu USD, tăng 84,7% so với cùng thời gian năm trước…

Sắt thép các loại: lượng xuất khẩu sắt thép các loại trong tháng 9 đạt 576 nghìn tấn, với trị giá đạt 407 triệu USD, giảm 4,7% về lượng và giảm 5,5% về trị giá. Qua đó đưa lượng xuất khẩu mặt hàng này trong 9 tháng từ đầu năm 2018 đạt 4,61 triệu tấn, trị giá 3,39 tỷ USD, tăng 39,4% về lượng và tăng 55,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Tính đến hết tháng 9/2018 sắt thép các loại chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường Campuchia là 976 nghìn tấn, tăng 53,6%; Hoa Kỳ: 718 nghìn tấn, tăng 89,8%; In-đô-nê-xi-a: 452 nghìn tấn, tăng 9,6%; Ma-lai-xi-a: 478 nghìn tấn, tăng 76,6%; EU (28 nước): 431 nghìn tấn, tăng 48% so với cùng kỳ năm trước.

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện: trị giá xuất khẩu trong tháng là 607 triệu USD, tăng 21,1% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng đầu năm nay đạt 3,49 tỷ USD, tăng 46,9% so với cùng thời gian năm trước.

 Trong 9 tháng tính từ đầu năm, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường: Trung Quốc với 1,8 tỷ USD, tăng 49,9%; Hồng  Kông: 855 triệu USD; tăng 28,1%; Hàn Quốc: 263 triệu USD, tăng gấp 2,7 lần so với một năm trước đó.

Thị trường xuất khẩu hàng hóa 

Trong 9 tháng/2018, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ tăng cao (trên 20%) so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Trung Quốc là 28,81 tỷ USD, tăng 29,9%; Hàn Quốc là 13,45 tỷ USD, tăng 26,1% và Ấn Độ là 5,18 tỷ USD, tăng mạnh 88,6% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Hoa Kỳ, EU và ASEAN cũng đều đạt tốc độ tăng trưởng dương, lần lượt là 13,2%, 10,5% và 14,5%. Trong đó: xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hoa Kỳ là 35,02 tỷ USD, tăng 4,08 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2017; xuất khẩu sang EU (28 nước) đạt 31,2 tỷ USD, tăng 2,96 tỷ USD; xuất khẩu sang ASEAN đạt 18,3 tỷ USD, tăng 2,3 tỷ.

Nhập khẩu

Nhập khẩu hàng hóa trong tháng 9/2018 là 19,5 tỷ USD, giảm 8,3% về số tương đối và giảm 1,77 tỷ USD về số tuyệt đối.

Trong tháng 9/2018, có tới 33/53 nhóm hàng nhập khẩu chính giảm so với tháng trước. Trong đó, giảm mạnh ở các nhóm hàng như: máy vi tính,  sản phẩm điện tử & linh kiện giảm 464 triệu USD, điện thoại các loại & linh kiện giảm 193 triệu USD, hạt điều giảm 125 triệu USD, sắt thép các loại giảm 116 triệu USD, máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng giảm 109 triệu USD…

Ngược lại, trị giá nhập khẩu ngô, thức ăn gia súc & nguyên liệu, than đá lại có mức tăng cao lần lượt gần 121 triệu USD, 84 triệu USD và 64 triệu USD.

Tính đến hết tháng 9/2018, nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 173,14 tỷ USD, tăng 11,6% so với năm trước, trong đó có tới 30 nhóm hàng chính đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 87% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước. Các mặt hàng tăng chủ yếu là : máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 3,52 tỷ USD, kim loại thường tăng 1,36 tỷ USD, xăng dầu các loại tăng 1,2 tỷ USD, dầu thô tăng 1,15 tỷ USD, chất dẻo nguyên liệu tăng hơn 1 tỷ USD…so với cùng kỳ năm trước.

Một số nhóm hàng nhập khẩu chính

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: kim ngạch trong tháng 9 là 3,54 tỷ USD, giảm 11,6% so với tháng 8, đưa kim ngạch nhập khẩu nhóm này trong  9 tháng đầu năm 2018 đạt 30,8 tỷ USD (mức cao nhất trong 9 tháng từ trước tới nay) tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Với quy mô nhập khẩu này, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện vẫn duy trì ngôi vị dẫn đầu được xác lập kể từ năm 2017.

Các thị trường cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong 9 tháng qua chủ yếu gồm: thị trường Hàn Quốc với kim ngạch 12,76 tỷ USD, tăng 13,6% so với năm trước, chiếm 41,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước; đứng thứ 2 là thị trường Trung Quốc với 5,48 tỷ USD, tăng 7,8%; thị trường Nhật Bản với 2,94 tỷ USD, tăng 34,5%...

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng:  Trị giá nhập khẩu trong tháng 9/2018 đạt 2,77 tỷ USD, giảm 3,8% so với tháng trước. Qua đó, đưa kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng này trong 9 tháng/2018 đạt 24,58 tỷ USD giảm 3,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong 3 quí đầu năm 2018, máy móc thiết bị dụng cụ, phụ tùng có xuất xứ từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản chiếm tỷ trọng tới 67,1% trị giá nhập khẩu mặt hàng này của cả nước. Cụ thể, nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc đạt 8,65 tỷ USD, tăng 5,7%; từ Hàn Quốc đạt 4,6 tỷ USD, giảm 33,5% và từ Nhật Bản đạt 3,26 tỷ USD, tăng nhẹ 1,8%...

Điện thoại các loại và linh kiện: nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 1,71 tỷ USD, giảm 10,2% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 9/2018 trị giá nhập khẩu nhóm hàng này đạt gần 11 tỷ USD tăng nhẹ 1,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Hàn Quốc và Trung Quốc là 2 thị trường chính cung cấp điện thoại các loại và linh kiện trong 9 tháng/2018 cho Việt Nam với trị giá chiếm 93,2% trị giá nhập khẩu của mặt hàng này của cả nước, trong đó: từ Trung Quốc là 6,09 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu từ Hàn Quốc là 4,16 tỷ USD, tăng nhẹ 0,1%; …

Chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo: Trong tháng 9/2018, nhập khẩu hai nhóm hàng chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo đạt 1,23 tỷ USD giảm 5,4% so với tháng trước. Qua đó, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng này trong 9 tháng đạt 10,93 tỷ USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ các quốc gia: Hàn Quốc đạt 2,52 tỷ USD tăng 9,9%; Trung Quốc đạt 2,32 tỷ USD tăng 13,4% ; Đài Loan đạt 1,14 tỷ USD tăng 19,7%... so với 9 tháng/2017.

Vải các loại: nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng 9 đạt hơn 1 tỷ USD, tăng 1,1% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng từ đầu năm 2018 đạt 9,41 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.

Vải nhập khẩu của Việt Nam trong 9 tháng/2018 chủ yếu từ thị trường Trung Quốc với 5,2 tỷ USD, tăng 18,4% so với cùng thời gian năm trước; Hàn Quốc với 1,6 tỷ USD, tăng 7,3%; từ Đài Loan với 1,2 tỷ USD, tăng 2,5%; Nhật Bản với 539 triệu USD tăng 14% …

Sắt thép các loại: trong tháng nhập khẩu nhóm hàng này là 1,05 triệu tấn, trị giá đạt 788 triệu USD, giảm 15,4% về lượng và giảm 12,9% về trị giá. Trong 9 tháng/2018, lượng nhập khẩu sắt thép các loại đạt 10,34 triệu tấn, trị giá 7,51 tỷ USD, giảm 10% về lượng nhưng tăng 11,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Trong 9 tháng/2018, Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp sắt thép các loại lớn nhất vào Việt Nam với hơn 4,8 triệu tấn, trị giá gần 3,46 tỷ USD, giảm 14,7% về lượng, nhưng tăng 9,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Đứng thứ 2 là Nhật Bản với 1,67 triệu tấn, trị giá 1,18 tỷ USD, giảm 0,8% về lượng và tăng 15,6% về trị giá; dứng thứ ba là Hàn Quốc với 1,31 triệu tấn, trị giá đạt 1,08 tỷ USD tăng 4,4% về lượng và tăng 21,4% về trị giá…

Hóa chất và sản phẩm từ hóa chất: nhập khẩu hai nhóm hàng này trong tháng 9/2018 có trị giá 798 triệu USD, giảm 11,4% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu hai  nhóm hàng này 9 tháng/2018 đạt 7,44 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước.

Nhập khẩu hóa chất và sản phẩm trong 9 tháng tính từ đầu năm 2018 chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với 2,16 tỷ USD, tăng 21,4% so với cùng kỳ năm 2017; xuất xứ từ Đài Loan với 863 triệu USD, tăng 27,1%; xuất xứ từ Hàn Quốc với 810 triệu USD, tăng 11,9%...

Xăng dầu các loại:  trong tháng 9 Việt Nam nhập khẩu gần 700 nghìn tấn xăng dầu các loại, với trị giá 502 triệu USD, giảm 9,8% về lượng và giảm 4,3% về trị giá, đưa lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm đạt 9,3 triệu tấn, trị giá đạt 6,3 tỷ USD, giảm 2,1% về lượng nhưng tăng 24,2% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Các thị trường cung cấp xăng dầu cho Việt Nam trong 9 tháng/2018 chủ yếu là: Malayxia với 2,67 triệu tấn, tăng 36,4%; Hàn Quốc với 2,33 triệu tấn, tăng 7,4%; Singapore với 2,08 triệu tấn, giảm 40,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Nguyên phụ liệu dệt may, da, giày: nhập khẩu trong tháng đạt trị giá 471 triệu USD, tăng 1,7% so với tháng trước, qua đó đưa trị giá nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm đạt 4,27 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 9 tháng từ đầu năm 2018, doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với 1,62 tỷ USD, tăng 6,1%; xuất xứ từ Hàn Quốc với 580 triệu USD, tăng nhẹ 1,4%; xuất xứ Đài Loan với 339 triệu USD, giảm 10,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Thị trường nhập khẩu hàng hóa

Trong số 58 thị trường chính có kim ngạch nhập khẩu trên 100 triệu USD trong 9 tháng/2018 thì có tới 45 thị trường có tốc độ tăng dương. Trong đó nhập khẩu từ Trung Quốc, Nhật Bản đều có tốc độ tăng hai con số, nhập khẩu từ Hàn Quốc chỉ tăng nhẹ.

Trong 9 tháng/2018, trị giá và tốc độ tăng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ các thị trường Trung Quốc là 47,26 tỷ USD tăng 12,8%; Hàn Quốc là 35,07 tỷ USD, tăng 1,6% và Nhật Bản là 13,87 tỷ USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất cung cấp hàng hóa vào Việt Nam trong 9 tháng/2018. Các nhóm hàng chính Việt Nam nhập khẩu từ thị trường này là: máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 8,65 tỷ USD, tăng 5,7%; điện thoại các loại và linh kiện: 6,09 tỷ USD, tăng 7,5%; máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: 5,48 tỷ USD, tăng 7,8%... so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch xuất nhập khẩu theo châu lục, khối nước và một số thị trường lớn 9 tháng/2018

Thị trường

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Kim ngạch

So với năm 2017 (%)

Tỷ trọng (%)

Kim ngạch

So với năm 2017 (%)

Tỷ trọng (%)

Châu Á

      96,00

21,0

53,5

   138,65

9,9

80,1

- ASEAN

          18,32

14,5

10,2

    23,23

13,2

13,4

- Trung Quốc

          28,81

29,9

16,1

    47,26

12,8

27,3

- Nhật Bản

          13,73

11,5

7,6

    13,87

14,6

8,0

- Hàn Quốc

          13,45

26,1

7,5

    35,07

1,6

20,3

Châu Âu

           34,66

9,2

19,3

     12,84

17,0

7,4

- EU(28)

          31,23

10,5

17,4

      9,99

11,3

5,8

Châu Đại Dương

             3,63

22,2

2,0

       3,21

15,7

1,9

Châu Mỹ

          42,94

10,4

23,9

    15,13

27,1

8,7

- Hoa Kỳ

           35,02

13,2

19,5

       9,55

36,9

5,5

Châu Phi

             2,23

6,8

1,2

       3,32

-0,5

1,9

Tổng

         179,47

15,8

100,0

   173,14

11,6

100,0

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Tổng quan số liệu thống kê hải quan về xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2019

Stt

Chỉ tiêu

Số sơ bộ

(A)

(B)

(C)

I

Xuất khẩu hàng hoá (XK)

 

1

I.1

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tháng 9/2018 (Triệu USD)

21.125

2

I.2

Tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu của tháng 9/2018 so với tháng 8/2018 (%)

-10,0

3

I.3

Tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu của tháng 9/2018 so với tháng 9/2017 (%)

9,5

4

I.4

Tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng/2018 (Triệu USD)

179.467

5

I.5

Tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu 9 tháng/2018 so với cùng kỳ năm 2017 (%)

15,8

II

Nhập khẩu hàng hoá (NK)

 

6

II.1

Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá tháng 9/2018 (Triệu USD)

19.513

7

II.2

Tăn​g/giảm kim ngạch nhập khẩu của tháng 9/2018 so với tháng 8/2018 (%)

-8,3

8

II.3

Tăng/giảm kim ngạch nhập khẩu của tháng 9/2018 so với tháng 9/2017 (%)

6,4

9

II.4

Tổng kim ngạch nhập khẩu 9 tháng/2018 (Triệu USD)

173.143

10

II.5

Tăng/giảm kim ngạch nhập khẩu 9 tháng/2018 so với cùng kỳ năm 2017 (%)

11,6

III

Tổng kim ngạch XNK hàng hoá (XK+NK)

 

11

III.1

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá tháng 9/2018 (Triệu USD)

40.638

12

III.2

Tăng/giảm kim ngạch xuất nhập khẩu của tháng 9/2018 so với tháng 8/2018 (%)

-9,2

13

III.3

Tăng/giảm kim ngạch xuất nhập khẩu của tháng 9/2018 so với tháng 9/2017 (%)

8,0

14

III.4

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng/2018 (Triệu USD)

352.610

15

III.5

Tăng/giảm kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng/2018 so với cùng kỳ năm 2017 (%)

13,7

IV

Cán cân Thương mại hàng hoá (XK-NK)

 

16

IV.1

Cán cân thương mại tháng 8/2018 (Triệu USD)

1.612

17

IV.2

Cán cân thương mại 9 tháng/2018 (Triệu USD)

6.325

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Trung tâm Xúc tiến thương mại.