logo

Quý I/2018, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam ước tính đạt 54,31 tỷ USD

Trong tháng 3/2018, kim ngạch xuất khẩu của cả nước đã đạt 17,16 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm ngoái, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của quý I lên mức 54,31 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong tháng 3/2018, kim ngạch xuất khẩu của cả nước đã đạt 17,16 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm ngoái, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của quý I lên mức 54,31 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2017. Đây cũng là mức tăng rất cao so với cùng kỳ các năm trước khi quý I/2017 xuất khẩu chỉ tăng 12,8%, còn quý I/2016 mức tăng là 6,6%. 

Cùng với đó, tính đến hết quí I, xuất khẩu của nhóm nông, lâm, thủy sản đạt 5,9 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 10,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. 

Đặc biệt, một số mặt hàng trong nhóm được hưởng lợi từ giá xuất khẩu tăng trong quý I. Trong đó, gạo có mức giá xuất khẩu tăng 13,5% so với cùng kỳ. Tính đến hết tháng 3/2018, xuất khẩu gạo đạt 1,352 triệu tấn, tăng 9,1% so với cùng kỳ, trị giá đạt 668 triệu USD. 

So với cùng kỳ năm 2017, một số mặt hàng chủ lực vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững, như nhóm hàng công nghiệp chế biến vẫn giữ vai trò chủ lực khi đem về khoảng 45,26 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm ngoái và cao gấp hơn 2 lần so với mức tăng của năm 2017 là 12,5%. 

Riêng hai mặt hàng điện thoại các loại và máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đã đóng góp 18,62 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Đây cũng là những mặt hàng có mức tăng trưởng ổn định trong những năm vừa qua, là một trong những động lực tăng trưởng của xuất khẩu. 

Ở chiều ngược lại, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I đạt 53,01 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 21,26 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 31,75 tỷ USD. 

Như vậy, cán cân thương mại hàng hóa quý I/2018 đã nghiêng về xuất khẩu, với mức xuất siêu 1,3 tỷ USD. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,3 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,6 tỷ USD. 

Có được kết quả này, bên cạnh nguyên nhân kinh tế thế giới phục hồi đã mở ra nhiều cơ hội cho xuất khẩu thì ở trong nước, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, những đổi mới hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, cùng với nguồn vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tăng tích cực... đã thúc đẩy sản xuất, tạo thêm nguồn hàng cho xuất khẩu. 

Không những thế, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, giày dép, máy móc thiết bị, đồ gỗ, nông sản và thủy sản tiếp tục được hưởng lợi lớn từ các Hiệp định thương mại tự do đã ký kết thời gian qua và kỳ vọng sẽ có nhiều cơ hội hơn tại thị trường Liên minh châu Âu (EU) khi Hiệp định FTA với khu vực này chính thức có hiệu lực. 

Hiện hàng hóa của Việt Nam đã có mặt tại gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Bên cạnh tập trung vào một số thị trường giàu tiềm năng, sức mua cao như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và ASEAN… hàng hóa Việt cũng bước đầu xuất khẩu thành công vào một số quốc gia mới ở các khu vực châu Phi, châu Mỹ La tinh… 

Tiềm năng tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thời gian tới dự kiến vẫn còn dồi dào, trong bối cảnh Việt Nam sở hữu nhiều loại hàng hóa có thế mạnh và ngày càng được thị trường thế giới ưa chuộng như: nông, thủy sản, linh kiện điện thoại, hàng dệt may… Tuy nhiên, điều quan trọng là các doanh nghiệp xuất khẩu phải kịp chuyển mình và nắm bắt tốt các cơ hội từ thị trường. 

Bên cạnh những thành tích đã đạt được vẫn còn một số tồn tại cần nhanh chóng khắc phục để hướng tới phát triển bền vững và hiệu quả. 

Cụ thể như tăng trưởng xuất khẩu dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài như gia tăng các rào cản thương mại, hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu. Hơn nữa, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, tuy đã chuyển dịch mạnh sang hàng chế biến, chế tạo, nhưng vẫn còn phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI). Đặc biệt, tỷ lệ nhập khẩu nguyên phụ liệu lớn khiến hàng hóa phụ thuộc vào thị trường cung cấp nước ngoài. 

Bên cạnh đó, mặc dù chất lượng hàng hóa nông sản, thủy sản đã được chú trọng cải thiện nhưng chưa đồng đều. Các mặt hàng nông, thủy sản xuất khẩu còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn thực phẩm. 

Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu chậm cải thiện, phần lớn các mặt hàng xuất khẩu đều chưa xây dựng được thương hiệu riêng... 

Việc giải quyết lo ngại không phải là tìm cách hạn chế hay giảm bớt hoạt động của các doanh nghiệp FDI mà phải tích cực hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước có thể phát triển nhanh chóng, hiệu quả, đạt tỷ lệ xuất khẩu cao hơn so với cơ cấu xuất khẩu chung của đất nước. 

Theo đó sẽ lựa chọn các mặt hàng có thế mạnh để xúc tiến xuất khẩu vào các thị trường theo từng giai đoạn cụ thể nhằm đa dạng hóa thị trường, mở rộng các thị trường xuất khẩu tiềm năng đồng thời củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị trường truyền thống. 

Trung tâm Xúc tiến thương mại Bình Dương.