logo

Cơ hội và thách thức từ hội nhập FTA

Việt Nam là nước tham gia tích cực trong đàm phán các FTA với mục tiêu mở cửa là để tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu, bên cạnh đó để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước có lựa chọn đa dạng hơn,tránh lệ thuộc vào thị trường nhất định. Bên cạnh gia tăng xuất khẩu, Việt Nam cũng phải chấp nhận mức độ nhập khẩu gia tăng nhiều hơn, làm cho nhập siêu với một số thị trường lớn hơn.

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) chính thức được thành lập vào năm 1992. Việt Nam bắt đầu thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) nhằm thiết lập AFTA từ năm 1996. Theo cam kết, các nước thành viên phải giảm thuế nhập khẩu xuống 0-5% trong vòng 10 năm. Để theo kịp xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hóa, các nước ASEAN đã cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế quan vào năm 2010 đối với ASEAN 6 (gồm: Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore và Thái Lan) và vào năm 2015, có linh hoạt đến năm 2018 đối với 4 nước thành viên mới là Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam. Như vậy đến năm 2015, Việt Nam đã cơ bản xóa bỏ thuế quan với các mặt hàng.

Cuối năm 2015, trên cơ sở nền tảng của AFTA, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức hình thành, mở thêm nhiều cơ hội khai thác thị trường ASEAN cho Việt Nam. Trong số các FTA mà Việt Nam đã ký kết tính đến thời điểm đó, các cam kết về cắt giảm thuế quan trong AEC là cao nhất và nhanh nhất. Lúc này, Hiệp định CEPT cũng được thay thế bằng Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA).

Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết và thực thi 10 FTA, kết thúc đàm phán 2 FTA, đang đàm phán 4 FTA khác. Trong 10 FTA đã ký kết và thực thi có 6 FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN (gồm AFTA, 5 FTA giữa ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và New Zealand), 4 FTA ký kết với tư cách là một bên độc lập (Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á-Âu). 2 FTA đã kết thúc đàm phán là FTA với Liên minh châu Âu và Hiệp định Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). 4 FTA còn lại đang được đàm phán bao gồm: Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), FTA ASEAN- Hồng Kông, FTA với Israel và FTA với Khối thương mại tự do châu Âu (EFTA).

Nhờ tham gia FTA với khu vực ASEAN, suốt thời gian qua, thứ hạng xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam và các nước thành viên ASEAN tăng lên rõ rệt. xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã tăng từ vị trí 50 trong năm 2007 lên vị trí 26 ghi nhận trong năm 2016. Trong khi đó, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng tăng lên từ vị trí thứ 41 trong năm 2007 lên vị trí 25 ghi nhận trong năm 2016.

FTA mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu, song Việt Nam chưa khai thác hết được những ưu đãi về thương mại hàng hóa. Các mặt hàng sản xuất, xuất khẩu truyền thống như dệt may, da giày... được đẩy mạnh. Tuy nhiên, Việt Nam chủ yếu làm gia công, chi phí lao động cao. Các mặt hàng truyền thống khác như gạo, tiêu, điều, cà phê…, với những ưu đãi thuế quan, các FTA mở ra cơ hội chế biến sâu hơn cho ngành hàng nhưng Việt Nam chưa làm được.

Quá trình hội nhập sâu này đã giúp quan hệ giao thương Việt Nam-ASEAN có bước tăng trưởng đáng kể, song thâm hụt thương mại đang nghiêng về phía Việt Nam.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong các năm từ 2011 đến 2016, Việt Nam lần lượt nhập siêu từ ASEAN là: 7,32 tỷ USD, 3,68 tỷ USD, 3,21 tỷ USD, 4,1 tỷ USD, 5,66 tỷ USD và 6,7 tỷ USD. Trong năm 2017, dù xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực ASEAN tăng mạnh 23,9%, đạt 21,51 tỷ USD, song với con số nhập khẩu 28,02  tỷ USD từ ASEAN, mức thâm hụt cán cân thương mại tiếp tục nghiêng về phía Việt Nam với 6,51 tỷ USD.

Xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN chủ yếu là nông sản, thủy sản và khoáng sản. Những mặt hàng này tuy hầu hết đều được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) tại các nước nhập khẩu nhưng giá cả còn phụ thuộc vào biến động trên thế giới nên kim ngạch xuất khẩu chưa ổn định. Trong nhóm công nghiệp, ngoại trừ mặt hàng máy vi tính và linh kiện điện tử, các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng được sản xuất, gia công khác như may mặc, giày dép… chỉ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN. Gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu được một số mặt hàng chế tạo sang ASEAN như: Dây điện và dây cáp điện, đồ chơi trẻ em, xe đạp và phụ tùng xe đạp… Những mặt hàng này tuy có nhiều triển vọng nhưng kim ngạch vẫn còn khá khiêm tốn. Trong khi đó, về mặt nhập khẩu, Tổng cục Hải quan phân tích: ASEAN là đối tác lớn thứ hai (sau Trung Quốc) xuất khẩu hàng hoá có xuất xứ ASEAN sang Việt Nam trong nhiều năm qua. Nhiều nhóm hàng được nhập khẩu từ thị trường này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam bao gồm: Xăng dầu, dầu thô, giấy các loại, chất dẻo nguyên liệu,  dầu mỡ động thực vật, gỗ và sản phẩm gỗ…

Liên quan tới tỷ lệ sử dụng Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) ưu đãi trong xuất khẩu hàng hóa vào thị trường ASEAN, số liệu của Cục Xuất nhập khẩu và Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương) cho thấy con số cũng còn khá khiêm tốn. Cụ thể, trong nửa đầu năm nay, tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi mẫu D đối với các mặt hàng xuất khẩu chỉ đạt 33%.

Có thể thấy, AFTA và sau này là AEC là FTA có "tuổi đời" dài hơn cả trong số các FTA mà Việt Nam đã tham gia. Tuy nhiên, phải thừa nhận, suốt thời gian qua, khả năng tận dụng cơ hội nhằm thúc đẩy xuất khẩu, khai thác thị trường ASEAN chưa đạt kết quả như mong đợi.

FTA giúp xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng mạnh, song chủ yếu tăng ở khối doanh nghiệp FDI. Doanh nghiệp FDI xuất siêu thì Việt Nam xuất siêu và ngược lại. Như vậy, với Việt Nam, mục tiêu tham gia FTA để gia tăng xuất khẩu đã đạt được, song đối tượng hưởng lợi chính là doanh nghiệp FDI, còn doanh nghiệp nội địa chưa đáp ứng được những yêu cầu của FTA nên khả năng tận dụng còn thấp. 

Trong khi đó, nhiều nước nội khối lại tận dụng được cơ hội, điển hình như Thái Lan. Thái Lan đã có hàng loạt hoạt động mua lại hoặc rót vốn vào các thương hiệu đình đám như BigC, Metro… Nhiều cửa hàng tiện lợi bán hàng Thái đã len lỏi sâu vào trong ngõ ngách của hầu hết tỉnh, thành. Không chỉ Thái Lan, hàng hóa của Singapore, Indonesia hay thậm chí từ nước vốn được coi là cạnh tranh yếu như Campuchia cũng đã xâm lấn thị trường Việt Nam.

Với việc thực thi Hiệp định ATIGA, hầu hết thuế suất các mặt hàng đến ngày 1/1/2015 cắt giảm về 0%. Năm 2018, việc thực thi các FTA sẽ tiếp tục ảnh hưởng sâu rộng đối với số thu ngân sách nhà nước của ngành Hải quan, nhất là thực hiện Hiệp định ATIGA. Đó là bởi khoảng 7% số dòng thuế linh hoạt, tương đương 687 mặt hàng được xem là nhạy cảm theo thỏa thuận với ASEAN sẽ được xóa bỏ (trừ mặt hàng xăng dầu có lộ trình riêng). Mạnh nhất là một số mặt hàng có số thu lớn, thuế suất cao như: Ô tô giảm từ 30% xuống 0%; linh kiện phụ tùng 5%, 20% xuống 0%; sắt thép 5% xuống 0%; nông sản, thuốc lá, rượu...

Lý giải cho viêc, các nước trong khu vực tận dụng tốt cơ hội từ việc mở cửa hội nhập, đặc biệt là những ưu đãi thuế quan từ FTA để khai thác thị trường Việt Nam mà Việt Nam thì chưa. Cụ thể, hàng hóa của ASEAN có chất lượng, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý. doanh nghiệp của các nước ASEAN có chiến lược sản phẩm cũng như chiến lược tiếp thị tốt. Đặc biệt, các doanh nghiệp ASEAN còn tham gia vào nhiều thương vụ sáp nhập, mua bán. Điều này cho thấy doanh nghiệp có chiến lược tiếp cận và mở rộng thị trường. Ở chiều ngược lại, chất lượng hàng Việt còn kém, giá cả thiếu cạnh tranh. Bên cạnh đó, chiến lược tiếp thị, chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp Việt cũng còn kém...

ASEAN là khu vực có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, là thị trường có những yêu cầu đơn giản nhưng tính khác biệt. Ví dụ, thị trường này đòi hỏi những sản phẩm lương thực thực phẩm, rau, củ, quả, gạo,… tưởng như là thế mạnh của Việt Nam, song khu vực này tập trung cả người Hồi giáo, người theo Phật giáo... với nhu cầu khác nhau. Vì vậy, phải tìm được sự khác biệt, tìm hiểu từng đối tượng nhằm đầu tư sản xuất đúng hướng, điều chỉnh sản xuất để đáp ứng được nhu cầu. Bên cạnh đó khó khăn với doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang ASEAN là chi phí rất cao. Chi phí ở đây đến từ chi phí ở cảng, chi phí vận chuyển trên đường... Tất cả khiến cho hàng Việt khó cạnh tranh với các nước khác ngay trong khu vực ASEAN.

Thực tế, doanh nghiệp vẫn thiếu vắng những thông tin thị trường để tấn công thị trường đầy tiềm năng này. Vì vậy, để tận dụng tốt hơn cơ hội từ FTA, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, doanh nghiệp mong muốn Chính phủ và các cơ quan chức năng đẩy mạnh khâu phổ biến những chính sách, thông tin, hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận được các đối tác trong ASEAN. Cần năng lực cạnh tranh của sản phẩm cần được nâng lên bằng cách thay đổi mẫu mã, chủng loại phong phú và cần có tầm nhìn với chiến lược tiếp thị sản phẩm tốt hơn. Doanh nghiệp cũng cần đầu tư vào công nghệ để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng...

Trung tâm Xúc tiến thương mại.