logo

Cơ hội và thách thức của ngành da giày

Theo Hiệp hội Da-Giày-Túi xách Việt Nam, hàng năm, kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Ngoài ra, ngành này cũng đáp ứng 50% nhu cầu tiêu dùng trong nước và giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu lao động. Năm 2018, ngành da giày đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu đạt 20 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2017.

Đối với ngành da giày của Việt Nam, cả Mỹ và Trung Quốc đều là những bạn hàng lớn và là thị trường xuất khẩu chủ lực trong những năm gần đây, chính vì vậy khi cuộc chiến thương mại giữa hai quốc gia kéo dài, dự báo sẽ có nhiều tác động tới tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này.

Việt Nam đang là nước sản xuất giày dép đứng thứ 3 châu Á sau Trung Quốc, Ấn Độ, và đứng thứ 4 thế giới. Hiện Việt Nam đang sản xuất khoảng 920 triệu đôi giày mỗi năm, xuất khẩu hơn 800 triệu đôi tới hơn 50 thị trường trên thế giới, trong đó Liên minh châu Âu (EU) chiếm tỷ lệ lớn nhất. Sản phẩm túi xách cũng được xuất khẩu sang 40 nước, trong đó thị trường Mỹ chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,6%.

Hiện nay Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất đối với ngành da giày Việt Nam, trong khi đó Trung Quốc lại là thị trường cung cấp chủ yếu nguyên phụ liệu cho ngành da giày, do vậy cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc Mỹ-Trung Quốc sẽ gây ra những lo ngại rất lớn đối với các doanh nghiệp.

Cụ thể đối với Trung Quốc, khi cuộc chiến xảy ra, việc phá giá đồng nhân dân tệ của nước này sẽ tác động đến nhập khẩu nguyên phụ liệu của Việt Nam.

Trong khi đó, với thị trường Mỹ, khi cuộc chiến thương mại xảy ra, đây cũng là cơ hội nhưng đan xen cả thách thức đối với doanh nghiệp của Việt Nam trong ngành da giày. Các sản phẩm từ nguyên liệu cho đến các mặt hàng giầy dép trong thời gian này chưa phải là những mặt hàng nằm trong danh mục sẽ bị áp thuế giữa hai nước Mỹ-Trung Quốc.

Dù vậy, khi cuộc chiến kéo dài, chắc chắn sẽ có nhiều tác động đối với ngành. Việt Nam đang phải nhập khẩu khá nhiều nguyên liệu từ Trung Quốc, những mặt hàng này có thể bị ảnh hưởng về giá cả thậm chí việc xuất sang một số thị trường khác cũng bị tác động đáng kể.

Thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc, tỷ trọng này đã tăng 20% trong những năm gần đây. Vừa nhập khẩu nguyên phụ liệu, vừa xuất khẩu được sản phẩm vào Trung Quốc. Cơ hội và thách thức sẽ song hành nhau chứ không phải chỉ có tác động tiêu cực ảnh hưởng đến ngành da giày.

Theo số liệu khảo sát thực tế của ngành da giầy, một năm ngành da giầy nhập trung bình khoảng 5,5 tỷ USD nguyên phụ liệu và 60% nhập từ Trung Quốc, do vậy khi biến động về tỷ giá sẽ thấy ngay những bất lợi như thế nào.

Với bất lợi như vậy, các doanh nghiệp trong ngành thay vì nhập khẩu sẽ đẩy mạnh đầu tư vào nguyên phụ liệu sản xuất trong nước, đây cũng là cơ hội để ngành nguyên phụ liệu của Việt Nam phát triển thay thế dần cho việc nhập khẩu.

Có thể thấy, một trong những lý do mà các doanh nghiệp vẫn chưa mạnh dạn đầu tư nguyên phụ liệu sản xuất trong nước vì quy mô sản xuất trong nước những năm trước đây còn nhỏ, do vậy chưa mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, khi tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) đã giúp cơ hội xuất khẩu mở rộng hơn kéo theo quy mô tăng trưởng cũng rất lớn. Với 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết với các nước và khu vực trên thế giới, xuất khẩu da giày của Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi lớn khi mức thuế xuất giảm mạnh từ 3,5-57,4% xuống 0%, mở ra cơ hội tăng trưởng xuất khẩu lớn cho ngành da giày.

Đơn cử vào năm 2000, mức độ của ngành giầy dép chỉ đạt con số khoảng 1 tỷ USD nhưng tới năm 2017 đã tăng gấp 16 lần. Điều đó cho thấy, với qui mô lớn như vậy thì mức đầu tư cho phát triển nguyên phụ liệu mới hấp dẫn và thu hút được các doanh nghiệp đầu tư vào.

Khi các hiệp định thương mại tự do ký kết đã mở ra các ưu đãi về thuế quan thì các hàng rào kỹ thuật và phi thuế quan lại được dựng lên. Đây là nguy cơ cho các doanh nghiệp sản xuất da giày vừa và nhỏ trong nước. Điều kiện về quy tắc xuất xứ đòi hỏi phải đảm bảo được một tỷ trọng các nguyên vật liệu sản xuất giá trị gia tăng ở trong nước mới đảm bảo thực hiện quy tắc xuất xứ để xuất khẩu và đây cũng là động lực để doanh nghiệp mở rộng đầu tư vào lĩnh vực này.

6 tháng đầu năm nay, tăng trưởng xuất khẩu của ngành da giày chỉ đạt mức hơn 7% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức bình quân 14% của năm 2015.

Trong năm 2016, ngành da giày đặt mục tiêu xuất khẩu là 17,4 tỷ USD và đến năm 2030 sẽ nâng kim ngạch xuất khẩu lên con số 54 tỷ USD. Theo đó, tốc độ tăng trưởng về số lượng là 1,8 lần, nhưng tốc độ tăng trưởng về giá trị lên tới 4 lần. Để tận dụng được lợi thế từ các FTA cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp da giày ngoại, các doanh nghiệp trong nước buộc phải tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và phải tiến dần vào việc sản xuất những dòng sản phẩm có giá trị cao, không thể chỉ tiếp tục sản xuất những dòng sản phẩm cơ bản như hiện tại.

Trước đây dòng sản phẩm có giá trị cao chỉ chiếm khoảng 5%, nhưng hiện nay đã đạt mức trên dưới 10%. Một số nước như Campuchia, Myanmar, Bangladesh đang sản xuất những dòng giày dép cơ bản và có khả năng được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi từ Liên minh châu Âu, Mỹ và sẽ là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam.

Để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ngành da giày nước ta đang vấp phải khó khăn lớn là tỷ lệ nguồn cung ứng nguyên, vật liệu nội địa thấp. Tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm được sản xuất bởi các doanh nghiệp Việt Nam phải được nâng lên mức 60% để đáp ứng được điều kiện về quy tắc xuất xứ trong các FTA mà Việt Nam đã tham gia, giúp giảm các chi phí về logistics và nâng cao sự chủ động của doanh nghiệp Việt.

Có một nghịch lý, da giày là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt Nam, nhưng xuất khẩu lại hầu hết đang nằm trong tay các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Khoảng  800 doanh nghiệp doanh nghiệp FDI, mặc dù chiếm chưa đến 25% số lượng doanh nghiệp hoạt động trong ngành, nhưng đang quyết định tới 77% giá trị xuất khẩu, trong đó nhiều doanh nghiệp FDI đang giữ vai trò dẫn dắt thị trường. Chẳng hạn Pouchen với hệ thống dày đặc các công ty con, đã đem về doanh số lên tới trên 30.000 tỷ đồng trong năm 2014 (tương đương 17% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành da giày của Việt Nam).

Các doanh nghiệp FDI đã rất chủ động trong chuỗi cung ứng do hệ thống của họ cung ứng từ nguyên phụ liệu, sản xuất đến phân phối. Trong các chuỗi cung ứng toàn cầu của các thương hiệu sản xuất giày dép lớn trên thế giới như Nike, Adidas… doanh nghiệp Việt ở thế bị động do ở vị thế làm gia công, sản xuất phụ thuộc vào sự chỉ định của nhà nhập khẩu.

Tỷ lệ nội địa hóa của ngành mới chỉ chiếm 40-45%, trong đó chủ yếu gồm hai mặt hàng thứ yếu là đế giày và chỉ khâu. Nguyên liệu quan trọng nhất để sản xuất giày dép là da thuộc và da nhân tạo vẫn đang phải nhập khẩu. Mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu từ 1,1-1,5 tỷ USD da thuộc cho sản xuất hàng xuất khẩu. Doanh nghiệp trong nước cũng chỉ cung ứng được vải cho sản xuất loại giày vải cấp thấp, còn các chủng loại vải cao cấp đều phải nhập khẩu. Ngay cả các loại máy móc để phục vụ sản xuất trong ngành hiện nay cũng đều phải nhập. Tất cả những yếu tố này đẩy giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam lên cao và làm giảm tính cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường thế giới.

Khi chúng ta được hưởng thuế suất 0% thì ngược lại chúng ta cũng phải giảm thuế nhập khẩu về 0% và nguy cơ sân nhà bị chiếm lĩnh bởi các doanh nghiệp ngoại là rất lớn. Tại thị trường nội địa, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm giày dép khoảng 150 triệu đôi/năm, nhưng 60% thị phần do các doanh nghiệp ngoại nắm giữ, trong đó phần lớn là các mặt hàng thuộc phân khúc thấp đến trung cấp là từ Trung Quốc, còn phân khúc cao cấp thì rơi vào tay các thương hiệu nước ngoài.

Với cánh cửa rộng mở từ các FTA, cũng như nhu cầu từ thị trường trong nước, hy vọng sẽ tạo nên cuộc cách mạng nhanh chóng, triệt để cho ngành công nghiệp sản xuất da giày nói riêng của Việt Nam.

Trung tâm Xúc tiến thương mại.