logo

Giải pháp “Liên kết giữa các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam để phát huy hiệu quả hoạt động Khuyến công”

Liên kết vùng là vấn đề cần thiết đã được đề cập từ lâu, song chưa có những quy định, chế tài, cơ chế, chính sách cụ thể. Hầu như trong các văn bản pháp lý, phần nói về giải pháp, đều có đề cập đến vấn đề phối hợp giữa các ngành, các địa phương.

Để đạt mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mục tiêu phát triển bền vững, bên cạnh việc chú trọng phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp chủ lực của từng vùng, từng địa phương. Cần nhìn nhận một cách đúng đắn về vai trò và đóng góp không nhỏ của công nghiệp nông thôn. Các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) là khu vực có vai trò quan trọng trong công tác giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp và ngân sách của Nhà nước. Các cơ sở có vốn đầu tư không lớn nhưng được hình thành và phát triển rộng khắp các tỉnh, thành, ở cả khu vực thành thị và nông thôn, ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực. Đây là khu vực khai thác các nguồn lực, tiềm năng, tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia vào đầu tư và tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh, giải quyết việc làm cho đông đảo lao động phổ thông. Trong đó kinh phí khuyến công của nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, tác động, kích thích các cơ sở CNNT, doanh nghiệp vừa và nhỏ kể cả siêu nhỏ có thêm nguồn lực để đầu tư vào phát triển sản xuất. 

Do vậy, việc củng cố và đẩy mạnh triển khai các chương trình khuyến công là một việc làm cần thiết để một mặt nhằm trợ giúp thiết thực cho các cơ sở trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc cải thiện chất lượng các yếu tố đầu vào như: đào tạo lao động, nâng cao trình độ quản lý, đổi mới thiết bị, công nghệ, tiếp cận các chính sách ưu đãi..., mặt khác nhằm thể hiện vai trò của nhà nước trong việc khuyến khích, tạo động lực cho mọi thành phần kinh tế tiếp tục tái đầu tư vào sản xuất, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế đồng bộ, tạo ra nhiều công ăn việc làm, giải quyết vấn đề lao động, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho dân cư nông thôn, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng và các đối tượng dân cư đảm bảo cho sự phát triển kinh tế bền vững.

Trong quá trình điều hành và hoạch định các chính sách kinh tế, nhà nước đã quan tâm nhiều đến việc phân vùng kinh tế và thực hiện việc lập quy hoạch các vùng kinh tế. Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác phân khu chức năng, quy hoạch vùng, vùng kinh tế trọng điểm. Tuy nhiên việc xây dựng các vùng kinh tế chủ yếu dựa vào điều kiện tiềm năng tự nhiên và lợi thế của từng vùng là chủ yếu.

Trong quá trình hình thành và phát triển, các vùng kinh tế trọng điểm đang phát huy lợi thế, tạo ra động lực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng tỉnh và của vùng cũng như của nền kinh tế quốc dân theo chiều hướng tích cực, góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh lân cận. Nhà nước tiếp tục thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu tăng trưởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện và đầu tư thích đáng hơn cho vùng còn khó khăn. Thống nhất quy hoạch phát triển trong cả nước, giữa các vùng, tỉnh, thành phố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, giúp đỡ kỹ thuật về nguồn nhân lực, nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và khu vực, gắn chặt phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ, cải thiện môi trường và quốc phòng an ninh.

Khu vực phía Nam gồm 20 tỉnh, thành phố, với diện tích 71.963 km2 (chiếm 21.75% diện tích cả nước), dân số khoảng 34,277 triệu người (chiếm 37,79% dân số cả nước), mật độ bình quân đạt 476 người/km2. Từ những điều kiện địa lý, văn hóa, lịch sử và kinh tế, khu vực phía Nam có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hình thành sự liên kết phát triển một cách tự nhiên tạo thành vùng kinh tế năng động và đa dạng nhất nước hiện nay, là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài và là yếu tố cơ bản nhất bảo đảm cho vùng một triển vọng phát triển dài hạn. Với tài nguyên thiên nhiên phong phú, có điều kiện thuận lợi để phát triển và cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào cho các ngành công nghiệp chế biến, đóng vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của cả nước, đây là lợi thế riêng có của khu vực phía Nam.

Công nghiệp phía Nam đang phát triển không ngừng, với những khu - cụm công nghiệp liên tiếp được hình thành, từ những doanh nghiệp lớn đến các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, từ những sản phẩm mang dấu ấn của khoa học, công nghệ hiện đại đến những sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đi khắp nơi trên thế giới. Trong bức tranh phát triển đó không thể không nhắc đến những đóng góp cũng như vai trò của các cơ sở CNNT.

Với nhiệm vụ hỗ trợ, tiếp sức cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở CNNT, hoạt động khuyến công đã và đang từng bước khẳng định vai trò và tầm quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn. Chính vì vậy, các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam luôn nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến công để tương xứng với tiềm năng phát triển các cơ sở CNNT của từng địa phương trong vùng. Một trong những giải pháp được quan tâm đến đó là xây dựng mối liên kết vùng nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư.

Ngày nay, trước những cơ hội hội nhập các nền kinh tế với những biến động của tình hình thế giới và những vấn đề nội tại của nền kinh tế, trong khi vẫn kiên trì mục tiêu phát triển dài hạn, cần thiết phải có những cách làm mới, đủ sức tạo ra một môi trường kinh doanh có sức hấp dẫn đối với mọi nguồn lực cho phát triển, trong đó có việc liên kết vùng là yêu cầu thực tế và có tính hiện thực cao đang đặt ra trước mắt. Mỗi một vùng có một số đặc điểm nổi trội so với các vùng khác, mỗi vùng đều có những thế mạnh và hạn chế đặc thù, tạo ra những lợi thế tuyệt đối và tương đối nhất định đối với quá trình phát triển kinh tế. Liên kết vùng vừa bổ sung những khiếm khuyết do điều kiện tự nhiên đặc thù, vì liên kết vùng không chỉ bù đắp những khoảng trống, thiếu hụt nguồn lực giữa các vùng mà còn làm gia tăng tính lợi ích nhờ hiệu quả kinh tế theo quy mô. Tạo được sự liên kết vùng vững chắc sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh trình trạng đầu tư dàn trãi, lãng phí và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương, hướng đến mục tiêu hiện đại hóa các ngành sản xuất.

Liên kết giữa các địa phương sẽ hình thành vùng trọng điểm sản xuất hiện đại, công nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh, đảm bảo sự quản lý thống nhất toàn vùng, đồng bộ, hiệu quả, nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của cả vùng, của mỗi địa phương trong vùng. Liên kết vùng có thể được thúc đẩy hay kìm hãm bởi các chính sách rất cụ thể, sự tương đồng về thể chế và sự đồng thuận của các nhóm xã hội cùng chia sẻ lợi ích chung, trong đó có lợi ích phát triển riêng của mỗi tỉnh, mỗi vùng trong đó thống nhất có sự điều hành chỉ đạo chung.

Liên kết vùng là vấn đề cần thiết đã được đề cập từ lâu, song chưa có những quy định, chế tài, cơ chế, chính sách cụ thể. Hầu như trong các văn bản pháp lý, phần nói về giải pháp, đều có đề cập đến vấn đề phối hợp giữa các ngành, các địa phương. Vì vậy để phát huy tối đa lợi ích của việc liên kết cần thực hiện một số giải pháp như sau:

- Đổi mới trong nhận thức, có tư duy đúng đắn về vị trí và vai trò của phát triển vùng và liên kết vùng, đảm bảo tính thống nhất trong quan điểm phát triển chung và vì lợi ích phát triển dài hạn. Cần phải nghiên cứu cụ thể về cơ chế vùng, liên vùng và ban hành các văn bản pháp lý cần thiết để điều tiết, kiểm soát, phát huy tối đa khả năng liên vùng để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.. Các hoạt động khuyến công phải bám sát huy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển ngành công nghiệp của toàn quốc, của vùng và của từng địa phương với những định hướng cụ thể, rõ ràng. 

- Các địa phương trong khu vực cần xây dựng các đề án trọng điểm, có sức lan tỏa lớn để phát huy thế mạnh từng vùng vực dậy các sản phẩm là thế mạnh của từng địa phương. Tập trung khuyến khích, hỗ trợ thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, của vùng trong đó ưu tiên đẩy mạnh hỗ trợ thực hiện chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn, sản phẩm xuất khẩu chủ lực... Hoạt động khuyến công phải góp phần phát huy lợi thế so sánh và khai thác thế mạnh về các nguồn lực sẵn có về tài nguyên, nguồn nguyên liệu, về thị trường và lao động tại mỗi vùng, mỗi địa phương để phát triển công nghiệp nông thôn. Phấn đấu mỗi vùng, mỗi địa phương đều có những ngành, những sản phẩm tiêu biểu, có giá trị gia tăng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước. Tập hợp liên kết các ngành hàng mà đầu mối là liên kết các giữa các hội, hiệp hội, tổ hợp tác… của địa phương lại với nhau.

- Tăng cường hợp tác, nâng cao hiệu quả việc liên kết giữa các tỉnh, thành thông qua việc xây dựng kế hoạch dài hạn, có lộ trình, có theo dõi, kiểm tra và đánh giá để điều chỉnh, nâng cao hiệu quả trên cơ sở tạo điều kiện cho các cơ sở hợp tác sản xuất, lưu thông hàng hóa, phát huy thế mạnh từng địa phương. Thường xuyên tổ chức các chuyến khảo sát, trao đổi kinh nghiệm để nắm bắt nhu cầu của các cơ sở CNNT, phát hiện những tiềm năng đối tác phát triển theo hướng chuyên môn hóa và chuyên nghiệp gắn với vùng nguyên liệu, nguồn lao động, khả năng cung ứng sản phẩm tạo thành một chuỗi liên kết căn cứ vào thế mạnh của từng địa phương trong khu vực. Tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố trong vùng và liên kết giữa các vùng để trao đổi kinh nghiệm trong phát triển ngành và hoạt động khuyến công; vừa phát huy được thế mạnh của mỗi địa phương, đồng thời liên kết khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng lợi thế của cả vùng.

- Quan tâm xây dựng các chương trình, đề án khuyến công theo hướng hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm nhằm tạo bước chuyển rõ rệt cho sự phát triển của ngành. Ngoài các hoạt động khuyến công theo đề án có hỗ trợ tài chính, cần tăng cường hoạt động tư vấn khuyến công hỗ trợ phi tài chính cho các cơ sở công nghiệp nông thôn. Hoàn thiện về cơ chế chính sách cả về chiều dọc và chiều ngang, xác định rõ chủ thể, cấp bậc, trên dưới, quy định rõ chức năng nhiệm vụ và các hoạt động chế tài đi kèm một cách rõ ràng minh bạch nhằm đảm bảo tính nghiêm minh và không đùn đẩy trách nhiệm trong quá trình thực thi các văn bản pháp luật. Cần có khung văn bản điều chỉnh về lợi ích, cơ chế hợp tác làm cơ sở để điều chỉnh và thực hiện phân định rõ ràng khi tham gia vào các hoạt động liên kết này. Từ đó các quy ước, thỏa thuận mới được thực thi một cách tự giác và đều đặn thường xuyên mang tính ổn định lâu dài và bền vững.  
 
Hoạt động liên kết vùng được thực thi sẽ phát huy lợi thế của từng địa phương trong vùng và cả quốc gia vì vậy nội dung liên kết vùng cần phải đề ra trong tất cả các lĩnh vực, kinh tế, xã hội, doanh nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp…Liên kết tốt sẽ đảm bảo cho hoạt động khuyến công được triển khai một cách có hiệu quả góp phần thiết thực nhất đến việc hỗ trợ các cơ sở CNNT. Công tác khuyến công là một yếu tố quan trọng đảm bảo triển khai thực hiện các đề án khuyến công thành công và có hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho các đối tượng thụ hưởng và xứng đáng với sự quan tâm, kỳ vọng của các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương trong đó giải pháp liên kết vùng được xem là then chốt để tiến hành thành công góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.

Tuấn Trần – TTKC.

Các bài viết đã đăng